1. Quy định về chuẩn đầu ra chương trình đào tạo đại học hiện nay

Theo quy định tại Điều 5 của Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT, quy định về chuẩn chương trình đào tạo, xây dựng, thẩm định và chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo phải đáp ứng một số quy định chung quan trọng sau đây:

- Đầu tiên, chuẩn đầu ra phải rõ ràng và thiết thực, thể hiện kết quả học tập mà người tốt nghiệp cần đạt được về hiểu biết chung và năng lực cốt lõi ở trình độ đào tạo, bao gồm cả yêu cầu riêng của lĩnh vực và ngành đào tạo mà họ theo học.

- Thứ hai, chuẩn đầu ra phải có khả năng đo lường và đánh giá được theo các cấp độ tư duy, từ đó làm căn cứ để thiết kế, thực hiện và cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy; kiểm tra và đánh giá kết quả học tập và cấp văn bằng cho người học.

- Thứ ba, chuẩn đầu ra phải nhất quán với mục tiêu của chương trình đào tạo, thể hiện được sự đóng góp rõ nét đồng thời phản ánh được những yêu cầu mang tính đại diện cao của giới tuyển dụng và các bên liên quan khác.

- Thứ tư, chuẩn đầu ra phải chỉ rõ bậc trình độ cụ thể và đáp ứng chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm, năng lực cần thiết theo quy định cho bậc trình độ tương ứng theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

- Thứ năm, chuẩn đầu ra phải bảo đảm tính liên thông với chuẩn đầu vào của trình độ đào tạo cao hơn (nếu có), đồng thời tạo cơ hội liên thông ngang giữa các chương trình cùng trình độ đào tạo, đặc biệt là giữa các chương trình thuộc cùng nhóm ngành hoặc cùng lĩnh vực.

- Thứ sáu, chuẩn đầu ra phải được cụ thể hóa một cách đầy đủ và rõ nét trong chuẩn đầu ra của các học phần và thành phần trong chương trình đào tạo, đồng thời được thực hiện một cách có hệ thống thông qua liên kết giữa các học phần và các thành phần.

- Cuối cùng, chuẩn đầu ra phải đảm bảo tính khả thi và phù hợp với khối lượng chương trình để phần lớn người học đã đáp ứng chuẩn đầu vào có khả năng hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian tiêu chuẩn.

Vì vậy, để đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo đại học, cần tuân thủ và đáp ứng đầy đủ 7 quy định trên. Các quy định này giúp đảm bảo rằng chương trình đào tạo đại học đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của ngành nghề, thị trường lao động và xã hội. Chúng đảm bảo tính rõ ràng, đo lường được, liên thông, cụ thể hóa, và khả thi của chuẩn đầu ra, tạo điều kiện tốt cho việc đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.

 

2. Các trường đại học có được tự mình quy định số tín chỉ sinh viên phải học không?

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT về chuẩn chương trình đào tạo của Giáo dục Đại học, có các điểm quy định sau đây:

- Đối với khối lượng học tập của chương trình đào tạo, mỗi thành phần hoặc mỗi học phần trong chương trình đào tạo, được xác định dựa trên số tín chỉ.

+ Một tín chỉ được tính tương đương với 50 giờ học tập của người học, bao gồm cả thời gian dự giờ giảng, giờ học có hướng dẫn, tự học, nghiên cứu, trải nghiệm và dự kiểm tra, đánh giá;

+ Đối với hoạt động dạy học trên lớp, một tín chỉ yêu cầu thực hiện tối thiểu 15 giờ giảng hoặc 30 giờ thực hành, thí nghiệm, thảo luận trong đó một giờ trên lớp được tính bằng 50 phút.

- Khối lượng học tập tối thiểu của một chương trình đào tạo cần phù hợp với yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam, cụ thể như sau:

+ Chương trình đào tạo đại học: 120 tín chỉ, bao gồm cả khối lượng giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng-an ninh theo quy định hiện hành;

+ Chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7: 150 tín chỉ, bao gồm cả khối lượng giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng-an ninh theo quy định hiện hành; hoặc 30 tín chỉ đối với người có trình độ đại học thuộc cùng nhóm ngành;

+ Chương trình đào tạo thạc sĩ: 60 tín chỉ đối với người có trình độ đại học thuộc cùng nhóm ngành;

+ Chương trình đào tạo tiến sĩ: 90 tín chỉ với người có trình độ thạc sĩ, 120 tín chỉ với người có trình độ đại học thuộc cùng nhóm ngành.

- Đối với các chương trình đào tạo song ngành, khối lượng học tập tối thiểu phải cộng thêm 30 tín chỉ, đối với chương trình đào tạo ngành chính - ngành phụ phải cộng thêm 15 tín chỉ so với chương trình đào tạo đơn ngành tương ứng.

Theo quy định tại Điều 7 của Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT, một tín chỉ trong chương trình đào tạo đại học được tính tương đương với 50 giờ học tập định mức của người học. Điều này giúp định rõ khối lượng học tập trong chương trình đào tạo và tạo điều kiện để tính toán số tín chỉ một cách chính xác.

Khối lượng học tập tối thiểu cho chương trình đào tạo đại học là 120 tín chỉ, bao gồm cả khối lượng giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng-an ninh theo quy định hiện hành. Điều này đảm bảo rằng trường đại học không được tự ý quy định số tín chỉ mà sinh viên phải học, mà phải tuân thủ khối lượng học tập được quy định tại Thông tư.

Quy định này nhằm đảm bảo tính công bằng và nhất quán trong việc xác định khối lượng học tập trong chương trình đào tạo đại học. Nó giúp đảm bảo rằng sinh viên sẽ được tiếp cận đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết trong quá trình học tập, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Từ những quy định này, ta thấy sự quan trọng của việc xác định và tuân thủ khối lượng học tập trong chương trình đào tạo đại học. Việc đảm bảo tính công bằng và nhất quán trong việc xác định số tín chỉ và khối lượng học tập cần thiết cho mỗi chương trình đào tạo là vô cùng quan trọng, nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và đáp ứng được nhu cầu của sinh viên trong quá trình học tập và phát triển cá nhân.

 

3. Những yêu cầu Giảng viên giảng dạy chương trình đào tạo đại học phải đáp ứng 

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 10 trong Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT, có các quy định cụ thể về yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên và nhân lực hỗ trợ trong việc tổ chức giảng dạy và hỗ trợ người học để đạt được chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

- Đầu tiên, chuẩn chương trình phải quy định yêu cầu tối thiểu về số lượng, cơ cấu, trình độ, năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ giảng viên và nhân lực hỗ trợ. Điều này nhằm đảm bảo rằng chương trình đào tạo được đáp ứng theo đúng tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra.

- Thứ hai, đối với đội ngũ giảng viên giảng dạy chương trình đại học hoặc chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ bậc 7, có các yêu cầu cụ thể như sau:

+ Giảng viên phải có trình độ thạc sĩ trở lên, trong khi trợ giảng phải có trình độ đại học trở lên.

+ Chương trình phải có ít nhất 01 tiến sĩ trong lĩnh vực phù hợp làm giảng viên cơ hữu, có trách nhiệm chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.

+ Chương trình phải có ít nhất 05 tiến sĩ với chuyên môn phù hợp làm giảng viên cơ hữu, đảm nhận vai trò chủ trì giảng dạy cho chương trình. Mỗi thành phần của chương trình phải có giảng viên chủ trì giảng dạy có chuyên môn phù hợp.

+ Đội ngũ giảng viên phải đủ số lượng để đảm bảo tỉ lệ sinh viên trên giảng viên không vượt quá mức quy định cho từng lĩnh vực, nhóm ngành hoặc ngành đào tạo.

Vì vậy, giảng viên và trợ giảng dạy cho trình độ đại học phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu được nêu trên. Những quy định này nhằm đảm bảo rằng đội ngũ giảng viên có đủ trình độ, năng lực và kinh nghiệm để đảm nhận việc giảng dạy chương trình đào tạo, đồng thời đảm bảo chất lượng và tính chuyên môn của quá trình giảng dạy.

Xem thêm >> Đang học đại học có phải tham gia khám nghĩa vụ quân sự không?

Trường hợp còn điều gì thắc mắc vui lòng gọi 1900.6162 hoặc gửi qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc