1. Quy định về giới hạn cấp tín dụng đối với các dự án đầu tư 

Giới hạn cấp tín dụng đối với các dự án đầu tư là một phần quan trọng trong quản lý tài chính và ngân sách của các tổ chức tín dụng. Việc quy định rõ ràng về giới hạn này không chỉ giúp ngăn chặn rủi ro tín dụng mà còn đảm bảo tính ổn định và an toàn của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về cách mà giới hạn này được thiết lập và áp dụng, chúng ta cần tìm hiểu các quy định cụ thể được nêu trong Điều 128 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi bởi khoản 21 Điều 1 Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017).

Theo quy định của Điều 128, giới hạn cấp tín dụng đối với các dự án đầu tư được xác định theo một số tiêu chí quan trọng. Đầu tiên, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của các tổ chức tín dụng như ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, và tổ chức tài chính vi mô. Ngoài ra, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và các bên liên quan cũng không được vượt quá 25% vốn tự có của các tổ chức tín dụng nêu trên.

Một quy định khác là về việc xác định giới hạn cấp tín dụng đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Theo đó, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Tương tự, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và các bên liên quan cũng không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Điều quan trọng cần lưu ý là các khoản vay từ nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân hoặc từ các tổ chức tín dụng khác không được tính vào mức dư nợ cấp tín dụng đã quy định. Tuy nhiên, việc mua và đầu tư vào trái phiếu phát hành bởi khách hàng hoặc các bên liên quan sẽ được tính vào mức dư nợ cấp tín dụng.

Ngoài ra, quy định cũng nêu rõ về việc cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Cụ thể, các điều kiện và hạn chế về mức độ cấp tín dụng này được quy định bởi Ngân hàng Nhà nước.

Trong trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng và các bên liên quan vượt quá giới hạn đã quy định, tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể được cấp tín dụng hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Điều này giúp đảm bảo rằng các dự án đầu tư có thể tiếp tục được triển khai một cách hiệu quả mà không gặp phải hạn chế về vốn.

Đặc biệt, trong những trường hợp đặc biệt mà khả năng hợp vốn của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không đáp ứng được nhu cầu, Thủ tướng Chính phủ có thể quyết định mức cấp tín dụng tối đa vượt quá các giới hạn đã quy định. Tuy nhiên, điều này cần phải được xem xét và quyết định cẩn thận, chỉ áp dụng trong các trường hợp thực sự cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Việc quản lý tổng các khoản cấp tín dụng cũng được quy định, với một giới hạn không được vượt quá bốn lần vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Điều này giúp đảm bảo rằng tổ chức tín dụng duy trì được sự ổn định và an toàn trong hoạt động tài chính của mình.

Tóm lại, qua các quy định trên, chúng ta nhận thấy rằng không có quy định cụ thể nào quy định giới hạn cấp tín dụng đối với một dự án BOT với tỷ lệ cấp tín dụng lên đến 85% tổng mức đầu tư của dự án. Tuy nhiên, các quy định này vẫn đảm bảo rằng việc cấp tín dụng được thực hiện một cách cân nhắc và có sự kiểm soát chặt chẽ, đồng thời bảo đảm tính ổn định và an toàn của hệ thống tài chính.

 

2. Quy định về điều kiện phê duyệt cấp tín dụng như thế nào?

Điều kiện phê duyệt cấp tín dụng hiện nay đã được quy định một cách cụ thể và chi tiết trong Điều 127 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bởi khoản 20 của Điều 1 của Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017. Theo quy định này, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng không có bảo đảm, trừ trường hợp cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho các đối tượng cụ thể.

Trong đó, các đối tượng được ưu tiên cấp tín dụng bao gồm các tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên, thanh tra viên đang làm việc tại tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngoài ra, các chức danh quản lý cấp cao của tổ chức tín dụng như kế toán trưởng, chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị cũng như các cổ đông lớn, cổ đông sáng lập và những người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng cũng được ưu tiên trong việc cấp tín dụng.

Đối với các doanh nghiệp, việc sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó cũng là một yếu tố quan trọng khi được xem xét cho vay. Ngoài ra, các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát cũng được xem xét trong quá trình cấp tín dụng.

Tuy nhiên, việc cấp tín dụng cho các đối tượng này cũng phải tuân thủ một số điều kiện cụ thể. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng được ưu tiên không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đồng thời, việc cấp tín dụng này phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng thông qua và công khai trong tổ chức.

Ngoài ra, đối với một số đối tượng nhất định, tổng mức dư nợ cấp tín dụng được quy định cụ thể. Đối với mỗi đối tượng, tổng mức dư nợ không được vượt quá một tỷ lệ nhất định của vốn tự có của tổ chức tín dụng. Ví dụ, đối với một đối tượng quy định tại điểm e, tổng mức dư nợ không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Đối với tất cả các đối tượng quy định tại điểm e, tổng mức dư nợ không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Nói chung, quy định về việc cấp tín dụng đối với các đối tượng ưu tiên không chỉ giới hạn về mức độ dư nợ mà còn cần tuân thủ các quy trình thông qua của tổ chức tín dụng. Điều này đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc quản lý tín dụng và giảm thiểu rủi ro cho tổ chức tín dụng.

 

3. Trường hợp nào không được cấp tín dụng theo quy định?

Những trường hợp không được cấp tín dụng là những điều mà các tổ chức tín dụng và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ, như đã được quy định trong Điều 126 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bởi khoản 19 của Điều 1 của Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017. Cụ thể, những trường hợp sau đây không được cấp tín dụng:

Cấp tín dụng không có bảo đảm: Các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng mà không có sự đảm bảo. Cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi chỉ được thực hiện đối với một số đối tượng cụ thể như:

Các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên đang thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tại tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài; các thanh tra viên đang tiến hành thanh tra tại các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Kế toán trưởng, Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên khác của Ban kiểm soát, Giám đốc, Phó giám đốc và các chức danh tương đương của các quỹ tín dụng nhân dân. Cổ đông lớn và cổ đông sáng lập của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Doanh nghiệp mà một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 của Điều 126 của Luật này sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó. Những người thẩm định và xét duyệt việc cấp tín dụng. Các công ty con và công ty liên kết của các tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà các tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát.

Hạn mức dư nợ cấp tín dụng: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng được quy định tại các điểm từ a đến d của khoản 1 này không được vượt quá 5% tổng số vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Quy trình thông qua và công khai: Việc cấp tín dụng cho các đối tượng được quy định tại khoản 1 này phải được Hội đồng quản trị và Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng thông qua và công khai trong tổ chức tín dụng.

Hạn mức dư nợ cấp tín dụng cho một đối tượng: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một đối tượng được quy định tại điểm e của khoản 1 này không được vượt quá 10% tổng số vốn tự có của tổ chức tín dụng. Đối với tất cả các đối tượng được quy định tại điểm e của khoản 1 này, tổng mức dư nợ cấp tín dụng không được vượt quá 20% tổng số vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Tổng mức dư nợ cấp tín dụng: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng bao gồm tổng số mua và đầu tư vào trái phiếu do các đối tượng được quy định tại các điểm a, c và d của khoản 1 này phát hành. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng quy định tại khoản 4 này cũng bao gồm tổng số mua và đầu tư vào trái phiếu do các đối tượng được quy định tại điểm e của khoản 1 này phát hành.

 

Xem thêm >>> Quy định về giới hạn cấp tín dụng? Điều kiện cấp tín dụng vượt giới hạn là gì?

Nếu quý khách hàng có bất kỳ câu hỏi, thắc mắc hoặc phản ảnh nào liên quan đến nội dung bài viết hoặc quy định pháp luật, chúng tôi xin trân trọng mời quý khách liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và tốt nhất.