1 Quy định về sự vô hiệu công ty 

1. Sai sót về hình thức.
Trước hết, về nguyên tắc, không còn có sự vô hiệu do sai sót về hình thức, mà chỉ còn có khả năng đối với mọi người có liên quan được khỏi kiện yêu cầu hợp thức hóa và trong trường hợp cần thiết, khởi kiện đòi bồi thưòưg thiệt hại.
Tuy nhiên vệc không công bố đối với các công ty hợp danh và các công ty hợp vốn đơn giản có thể dẫn đến sự vô hiệu hóa công ty. Nhưng Tòa án có quyền không tuyên bố  điều đó nếu thấy không có sự gian dối.
2. Sai sót về nội dung.
Sự vô hiệu của việc thành lập công ty được quyết định:
- Nếu mục tiêu kinh doanh là bất hợp pháp hoặc trái đạo đức xã hội. 
 
- Nếu có sự sai lầm trong việc thỏa thuận của một trong các thành viên (vì nhầm lẫn, bạo lực,lừa dối)
- Nếu một trong các hội viên là nguời không có năng lực hành vi (ví dụ: nếu là người chưa thành niên) Theo đó  BLDS 2015 quy định "Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Theo quy định trên người chưa thành niên được hiểu là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật

     Như vậy; có thể thấy người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi; chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần; chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.

    Còn theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em; được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có quy định: “Trong phạm vi Công ước này; trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi; trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. 

     Như vậy; ta có thể thấy pháp luật Việt Nam hiện tại hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em qua đó pháp luật nước ta đã phần nào đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình" 

Tuy nhiên, Luật ngáy 24-7-1966 đã quy định một số hạn chế đối với việc áp dụng quyền khởi kiện xin vô hiếu hóa có sai sót về nội dung
 - Công ty và các thành viên không thể viện dẫn sự vô hiệu để chống lại lợi ích của ngưòi ngoài ngay thẳng, trường hợp thành viên có khuyết tật trong sự thỏa thuận hoặc không có năng lực. Nhưng đối với trường hợp này thì chỉ có người không có năng lực mới được viện dẫn.
 - Khi nguyên nhân dẫn đến vô hiệu (như có khuyết tật trong sự thỏa thuận hoặc tình trạng không có năng lực của một thành viên) có thể được hợp thức hóa, thì tmọi người có liên quan có thể đòi người có khả năng thực hiện việc hợp thức hóa phải tiến hành việc hợp thức hóa hoặc phải khởi kiện xin vô hiệu hóa trong một thời hạn la 6 tháng
Đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần, không thể có sự vô hiệu của công ty do nguyên nhân có khuyết tật trong sự thỏa thuận hoặc do tình trạng không có năng lực hành vi trừ trường hợp những sai lầm đó thuộc về tất cả các thành viên sáng lập, Sự vô hiệu của công ty cũng không thể là kết qua của sự vô hiệụ của các điều khoản mà Bộ luật dân sự đã nghiêm cấm.
c- Thời hiệu của quyền khỏi kiện xin vô hiệu hóa  3 năm, kể từ ngày nguyên nhân vô hiệu phát sinh
Quyền kháng nghị của người ngoài đối với các quyết định về sự vô hiệu của một công ty kinh doanh chỉ được chấp nhận trong thòi hạn 10 tháng, kể từ ngày công bố quyết định của tòa án trên công báo về các thông báo thương mại. Khi có quyết định công bố vô hiệu thì sẽ tiến hành việc thanh lý công ty theo các quy định của pháp luật và điều lệ. Quyết định đó không có hiệu lực hồi tố; tất cả coi như là công ty đã tồn tại cho đến lúc đó và nay bị giải thể.
Những người ngoài không thể dựa vào sự vô hiệu của công ty để từ chối việc thực hiện các nghĩa vụ mà họ đã ký kết trước đó với công ty.

2 Quy định về các công ty trên thực tế

Người ta nhận thấy rằng trong trưòng hợp phải tuyên bố một công ty vô hiệu, việc công nhận hợp thức các hành vi thương mại đã được thực hiện trước khi nó được tuyên bố thường là một việc làm có lợi. Người ta giải thích việc công nhận này bằng cách nói rằng công ty đó ít nhất cũng đã hoạt động như một "công ty thực tế".
' Mặt khác, người ta cũng nhận thấy rằng trong một vài giả thuyết, những người tuy không hề ký với nhau một hợp đồng thành lập công ty nào, hoặc đã ký một hợp đồng công ty theo loại hình khác, trên thực tế đã hành động như những thành viên, do đó cũng phải giải quyết sòng phẳng các công việc cam kết thanh toán lỗ, lãi của họ.Và vì thế người ta đã buộc phải cho rằng tuy về mặt hình thức không hề có hợp đồng lập công ty, nhưng cũng đã có "một công ty thực tế".
Do thực tiễn nói trên, người ta đã dùng cùng một từ ngữ để chỉ hai tình trạng khác nhau tình trạng các công ty bề ngoài có vẻ hợp thức nhưng sẽ bị tuyên bố vô hiệu, và tình trạng các công ty được thành lập "trên thực tế".
Chúng tôi đã nghiên cứu trong đoạn trên đây vấn đề các công ty bị tụyên bố là vô hiệu và được coi như công ty "thực tế" đối với thời kỳ đã qua vấn đề còn lại là phải xem xét các công ty được thành lập "trên thực tế"

2.1 Các công ty thành lập "trên thực tế".

Sự tồn tại của một công ty "thực tế" có thể được xác nhận khi hai hoặc nhiều người: "
- Đã góp một số tài sản thanh của chung; 
- Đã phân chia lỗ, lãi do hoạt động mang lại.
- Và đã có "ý chí kết hội”, vì chính đó là các yếu tố của hợp đồng thành lập công ty.
Lẽ tất nhiên người nào muốn yêu cầu công nhận một công ty như thế thì phải chứng minh đủ 3 yếu tố này; và điều đó không phải luôn luôn dễ dàng. 
Ví dụ: Tòa phá án đã công nhận sự tồn tại của một công ty "thực tế" giữa một nhà kinh doanh vận tải với một  nhà kỹ thuật viên được dùng làm phụ tá và cùng đựợc chia lãi, khi các tình tiết thực tế cho thấy, ngoài việc tham gia vào sự phát triển của xí nghiệp bằng việc làm và những phẩm chất nghề nghiệp; người này còn tham giá cả vào việc góp vốn và chia sẻ các rủi ro một cách bình đẳng với nhà kinh doanh đâu tiên, và đôi bên đều có ý chí chung 
Lý thuyết này thựờng dừng để xác định tính chất của sự hợp tác của một phụ nữ vào công việc làm ăn của người tình.
Người ta còn có thể coi là công ty "thực tế" sự hợp tác của đôi vợ chồng đã phân chia tài sản trong việc quản lý một cơ sở kinh doanh.

2.2 Quy tắc áp dụng đối với các công ty "thực tế".

Đối với các công ty "thực tế" do không có hợp đồng viết nên không thể dựa vào đó mà xác định các quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên với nhau, và với người thứ ba; điều 1873 Bộ luật dân sự coi các công ty thực tế này tương tự như các công ty dự phần đã được quy định ở các đ.1871 và 1872 Bộ luật dân sự.
Không có một quy ưóc nào giới hạn thời gian hoạt động của công ty, cho nên việc giải thể chỉ được thực hiện bằng sự từ bỏ việc tham gia của một trong các thành viên và sự từ bỏ đó cần được thông báo cho tất cả các thành viên khác biết, miễn là việc thông báo này là ngay thẳng và làm đúng lúc 
Với người thứ ba, mỗi thành viên vẫn là chủ sở hữu các tài sản mà họ góp vào công ty
Số tài sản có được bằng việc sử dụng các khoản tiền chung trong thời gian hoạt động của công ty hoặc đã có từ trước khi  được gọi vào công ty, được xem là tài sản chung không chia của các thành viên.
Mỗi thành viên ký kết với danh nghĩa cá nhân và chịu trách nhiệm riêng với người thứ ba, trừ trường hợp  người tham gia khác đã hành động công khai với tư các thành viên mà người thứ ba biết rõ.

3 Nguyên nhân của việc giải thể công ty

1. Các nguyên nhân chung cho tất cả các công ty
a. Hết thời hạn hoạt động của công ty.
Thông thường hợp đồng thành lập cộng ty quy định rõ thời hạn hoạt động của công ty. 
Đến thời hạn ấn định, công ty đương nhiên được giải thể, trừ trường hợp có sự gia hạn.
Một năm trước khi hết thời hạn của công ty những người đại diện hợp pháp phải triệu tập một  cuộc họp của toàn thể các thành viên để quyết định, trong các diều kiện quy đỊnh  cho việc sửa đổi điều lệ xem có phải gia hạn công ty hay không.
Nếu họ có lỗi không triệu tập cuộc họp này thì bất cứ thành viên nào sau khi đã gửi thư bảo đảm đòi hỏi mà vẫn không có kết qủa , đều có thể yêu cầu Chánh án Tòa án cứ thẩm qụyền chỉ định một người được ủy quyền lấy ý kiến các thành viên để quyết định về vấn đề này 
b. Mục đích của công ty không còn nữa.
Ví dụ, một công ty được thành lập để quản lý một bất động sản sẽ bị giải thể nếu bất động sản này lại bị phá hủy.
Cũng như thế, một công ty được thành lập đã tiến hành một hoạt đông kinh doanh cụ thể sẽ bị giải thể trong trường hợp mục đích của công ty đã được hoàn toàn thực hiện.
C. Do sự thỏa thuận của các thành viên.
Các thành viên có thể đưa ra những sửa đổi hợp đồng thành lập công ty phù hợp với các quy tắc khác nhau tùy theo loại hình công ty.
Các thành viên căn cứ vào các quy tắc đó cũng có thể quyết định giải thể công ty trước thời hạn thay vì chỉ sửa đổi một số điều khoản.
d. Do việc hủy bỏ hợp đồng thành lập công ty, nếu nó chứa đựng một nguyên nhân vô hiệu
e. Do quyết định của tòa án.
Một trong các thành viên có thể yêu cầu tòa án giải thể công ty khi thời hạn đã đến với điều kiện là có lý do chính đáng.
Cũng sẽ như vậy, nếu như một thành viên khác bội ước, hoặc nếu như giữa các thành viên có mâu thuẫn tương đối sâu sắc và dai dẳng làm cho hoạt động của công ty bị tê liệt, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển  của công ty.
Tính chất chính đáng và nghiêm trọng của các lý do viện dẫn sẽ do Tòa án xém xét.
2 . Nguyên nhân riêng đối với các công ty đối nhân. ;
Ngoài các nguyên nhân chung cho tất cả các công ty còn một số nguyên nhân có tính chất riêng đối với  loại công ty đối nhân. 
Một thành viên qua đời hay bị cấm quyền, bi mất khả năng chi trả, bị tuyên bố phá sản... hoặc ở trong tình trạng bị thanh toán theo trình tự tư pháp, đều đương nhiên dẫn đến vịêc giải thể công ty (trừ trường hợp đối với công ty dân sự có tính chất nghề nghiệp ).
Việc giải thể này có thể được nêu ra khôhg chỉ bởi các thành viên khác mà còn bởi cả chính bản thân đương sự (hoặc  người thừa kế), hoặc bởi các chủ nợ riêng của đương sự.
Nhưng chứng thư thành lập công ty có thể quy định trong những hoàn cảnh nêu trên không dẫn đến việc giải thể công ty

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!