1. Công tác sơ cấp cứu tại nơi làm việc được hiểu thế nào?

Việc thực hiện sơ cứu và cấp cứu tại nơi làm việc đang đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt khi xảy ra tai nạn lao động, đặc biệt là trong môi trường công việc đầy nguy hiểm và độc hại. Thời gian phản ứng nhanh chóng trong việc sơ cứu và cấp cứu có thể giúp hạn chế các tác động tiêu cực của tai nạn lao động lên sức khỏe của người lao động, không chỉ trong tương lai mà còn trên thời gian ngay sau sự cố xảy ra.

Thông tư số 19/2016/TT-BYT ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 15/8/2016, đã đưa ra các quy định cụ thể về việc quản lý vệ sinh lao động và sức khỏe của người lao động. Thông tư này đã xác định rõ những yêu cầu cần tuân theo đối với hoạt động sơ cứu và cấp cứu tại nơi làm việc, bao gồm việc chuẩn bị túi sơ cứu, tổ chức lực lượng sơ cứu, và các yêu cầu tại các khu vực và quá trình huấn luyện sơ cấp cứu (thuộc Điều 5, 6, 7, 8 và 9).

Theo đó, việc bố trí lực lượng và trang bị thiết bị sơ cứu và cấp cứu cần phải phù hợp với loại công việc, môi trường làm việc đầy nguy hiểm và độc hại, số lượng người lao động, số lượng ca làm việc, nguy cơ tai nạn có thể xảy ra, khoảng cách đến cơ sở y tế gần nhất và tỷ lệ tai nạn lao động (nếu có). Đặc biệt, ở các nơi làm việc sử dụng hóa chất độc hoặc chất gây ăn mòn, cần trang bị vòi tắm khẩn cấp và phương tiện rửa mắt ở vị trí dễ tiếp cận trong khu vực làm việc, tuân theo quy định của nhà sản xuất hoặc pháp luật.

Nếu công việc liên quan đến hóa chất nguy hiểm, phải cung cấp phiếu an toàn hóa chất bằng tiếng Việt, bao gồm hướng dẫn về cách sơ cứu và cấp cứu cho loại hóa chất đó. Tài liệu này cần được đặt gần túi sơ cứu và cấp cứu để dễ tiếp cận. Nếu có hóa chất giải độc, cần phải cung cấp chất giải độc và hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt trong túi sơ cứu và cấp cứu. Cần bố trí lực lượng sơ cứu và cấp cứu theo quy định và công khai thông tin về các phương tiện cấp cứu, phòng sơ cứu và danh sách thành viên của lực lượng sơ cứu và cấp cứu tại các khu vực làm việc, để người lao động có thể sử dụng khi cần.

Tất cả trang thiết bị và phương tiện sơ cứu và cấp cứu, bao gồm cả túi sơ cứu, cần được kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ để đảm bảo luôn sẵn sàng và đáp ứng các yêu cầu quy định. Túi sơ cứu cần được đặt tại các vị trí dễ thấy, dễ tiếp cận, và phải có ký hiệu chữ thập. Số lượng túi sơ cứu cần trang bị phù hợp với số lượng người lao động, ví dụ, ít nhất 01 túi sơ cứu loại A cho khu vực có dưới 25 người lao động, ít nhất 01 túi sơ cứu loại B cho khu vực có từ 26 - 50 người lao động, và ít nhất 01 túi sơ cứu loại C cho khu vực có từ 51 - 150 người lao động (01 túi B tương đương với 02 túi A và 01 túi C tương đương với 02 túi B).

Túi sơ cứu tại nơi làm việc cần phải được trang bị đầy đủ các dụng cụ tối thiểu cần thiết để thực hiện sơ cứu theo quy định tại mục 3, phụ lục 4 của Thông tư 19/2016/TT-BYT.

2. Yêu cầu đối với hoạt động sơ cứu cấp cứu tại nơi làm việc

- Để xác định việc bố trí lực lượng và trang bị thiết bị cứu hộ và cấp cứu, cần dựa trên các yếu tố sau đây:

+ Tính chất của hoạt động sản xuất và tự nhiên của các yếu tố gây nguy hiểm và có hại.

+ Số lượng người lao động và ca làm việc, cùng với việc xác định các điểm ca làm việc.

+ Mức độ nguy cơ tiềm ẩn cho các tai nạn có thể xảy ra tại nơi làm việc.

+ Khoảng cách từ nơi làm việc đến cơ sở y tế gần nhất.

+ Tỷ lệ tai nạn lao động trong khu vực làm việc (nếu có).

- Đối với các vị trí làm việc mà sử dụng hóa chất độc hoặc chất gây ăn mòn, cần phải trang bị vòi tắm khẩn cấp và phương tiện rửa mắt tại vị trí dễ tiếp cận trong khu vực làm việc, và phải tuân theo quy định của nhà sản xuất hoặc các quy định pháp luật liên quan (nếu có).

- Nếu nơi làm việc sử dụng hóa chất được phân loại là hóa chất nguy hiểm theo quy định của pháp luật về hóa chất, cần phải có phiếu an toàn hóa chất bằng tiếng Việt, kèm theo hướng dẫn về cách sơ cứu và cấp cứu đối với loại hóa chất đó, và đặt gần vị trí của túi sơ cứu và cấp cứu để dễ tiếp cận. Đối với hóa chất có chất giải độc, cần phải cung cấp cả chất giải độc và hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt trong túi sơ cứu và cấp cứu.

- Cần có đủ lực lượng sơ cứu và cấp cứu đáp ứng các điều kiện quy định tại mục 2.

- Cần công bố và thông báo công khai thông tin về vị trí, số lượng túi sơ cứu, trang thiết bị, các phương tiện cấp cứu, phòng hoặc khu vực sơ cứu và cấp cứu, cùng với danh sách thành viên của lực lượng sơ cứu và cấp cứu tại các khu vực làm việc của cơ sở lao động để người lao động có thể sử dụng khi cần thiết.

- Các trang thiết bị và phương tiện sơ cứu và cấp cứu, bao gồm cả túi sơ cứu, cần được kiểm tra và định kỳ rà soát để đảm bảo luôn trong tình trạng hoạt động tốt và tuân theo các yêu cầu quy định tại Thông tư 19/2016/TT-BYT.

(Theo Điều 5 Thông tư 19/2016/TT-BYT).

3. Tổ chức lực lượng sơ cứu cấp cứu tại nơi làm việc được quy định như thế nào?

(1) Lực lượng sơ cứu và cấp cứu bao gồm:

- Người lao động được người sử dụng lao động chỉ định tham gia vào đội ngũ sơ cứu và cấp cứu. Người được chỉ định tham gia lực lượng sơ cứu cần tuân thủ các tiêu chí sau:

  + Phải có sức khỏe đủ mạnh và tình nguyện tham gia vào các hoạt động sơ cứu và cấp cứu.

  + Có khả năng nhanh chóng có mặt tại hiện trường tai nạn lao động để hỗ trợ sơ cứu và cấp cứu trong thời gian làm việc.

  + Đã được huấn luyện về kỹ năng sơ cứu và cấp cứu theo hướng dẫn tại mục 3.

- Người thực hiện công việc y tế tại cơ sở sản xuất kinh doanh.

(2) Đối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh có công việc thuộc danh mục yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và vệ sinh lao động, người sử dụng lao động cần bố trí và sắp xếp số lượng người làm công tác sơ cứu và cấp cứu như sau:

- Dưới 100 người lao động, cần bố trí ít nhất 01 người làm công tác sơ cứu và cấp cứu.

- Mỗi khi số lượng người lao động tăng thêm 100 người, cần bố trí thêm ít nhất 01 người làm công tác sơ cứu và cấp cứu.

(3) Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh khác, người sử dụng lao động cần sắp xếp và bố trí số lượng người làm công tác sơ cứu và cấp cứu như sau:

- Dưới 200 người lao động, cần bố trí ít nhất 01 người làm công tác sơ cứu và cấp cứu.

- Mỗi khi số lượng người lao động tăng thêm 150 người, cần bố trí thêm ít nhất 01 người làm công tác sơ cứu và cấp cứu.

(4) Cần đảm bảo rằng mỗi ca làm việc hoặc nhóm làm việc di động phải có ít nhất một người hoặc đội ngũ có trách nhiệm sơ cứu và cấp cứu.

(Theo Điều 7 Thông tư 19/2016/TT-BYT)

4. Huấn luyện sơ cứu cấp cứu tại nơi làm việc

- Người được đào tạo về sơ cứu và cấp cứu bao gồm:

  + Người lao động, trừ trường hợp họ đã được cấp Giấy chứng nhận huấn luyện về an toàn và vệ sinh lao động.

  + Những người được chỉ định tham gia vào đội ngũ sơ cứu và cấp cứu.

- Việc đào tạo và đào tạo lại hàng năm cần tuân theo hướng dẫn chi tiết trong Phụ lục 6, được đưa ra cùng với Thông tư 19/2016/TT-BYT. Nội dung và thời gian đào tạo cần phải tuân theo quy định trong phụ lục này.

- Người đã được đào tạo phải ghi danh vào Sổ theo dõi đào tạo sơ cứu và cấp cứu theo mẫu quy định trong Phụ lục 7, đi kèm với Thông tư 19/2016/TT-BYT sau khi hoàn tất khóa đào tạo. Trong trường hợp người lao động đã có Giấy chứng nhận đào tạo về an toàn và vệ sinh lao động, họ không cần phải ghi danh vào Sổ theo dõi đào tạo sơ cứu và cấp cứu, nhưng họ phải bảo quản một bản sao của Giấy chứng nhận đào tạo về an toàn và vệ sinh lao động.

(Theo Điều 9 Thông tư 19/2016/TT-BYT)

Bài viết liên quan: Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc như thế nào?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!