Hiện nay, pháp luật nhiều nước trên thế giới công nhận trọng tài thương mại có ba loại là: Trọng tài thường trực, trọng tài vụ việc, trọng tài lai. Các bên tranh chấp phải tự cân nhắc, quyết định về loại trọng tài giải quyết tranh chấp và cùng nhau thống nhất lựa chọn một hình thức nhất định.
1. Trọng tài lai (hybrid arbitration)
Khi cân nhắc các phương án giải quyết tranh chấp, xu hướng sử dụng trọng tài thay cho phương án Tòa án truyền thống đang là xu hướng được Doanh nghiệp ưa chuộng. Trong đó, lựa chọn một thủ tục trọng tài được điều phối và giám sát bởi một tổ chức trọng tài quy chế (institutional arbitration/administered arbitration) có lẽ là một trong những phương án thuận tiện và phổ biến hơn cả đối với Doanh nghiệp tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Thông thường, mỗi trung tâm trọng tài đều thiết kế cho riêng mình một bộ quy tắc tố tụng, tuân theo các khuôn mẫu chung, đảm bảo tính “quốc tế” trong khi hoạt động tuân thủ theo các quy định của “địa phương”- quốc gia nơi trung tâm đó có trụ sở. Hầu hết, các trung tâm đều khuyến khích các bên sử dụng chính bộ quy tắc của trung tâm để giải quyết tranh chấp của các bên bởi việc vận hành một thủ tục trọng tài theo quy tắc của chính mình sẽ nhuần nhuyễn, thành thục và ít “trục trặc” phát sinh hơn. Tuy vậy, như là một nguyên tắc cơ bản của trọng tài, quyền lựa chọn vẫn thuộc về các bên. Có không ít thỏa thuận trọng tài thể hiện ý chí rằng các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài này, nhưng muốn sử dụng một bộ quy tắc tố tụng khác với bộ quy tắc của trung tâm đó ban hành.
Bản chất của trọng tài lai là một trọng tài ad-hoc bởi nó được hình thành và vận hành trên cơ sở bộ quy tắc tố tụng trọng tài do các bên tranh chấp lựa chọn chứ không phải là bộ quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài mà các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp. Trên thực tế có trường hợp các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp tại một tổ chức trọng tài nhưng lại lựa chọn quy tắc tố tụng không phải là quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó. Nếu điều lệ trọng tài của tổ chức trọng tài này không cho phép giải quyết tranh chấp tại tổ chức trọng tài bằng quy tắc tố tụng khác thì tranh chấp sẽ bị từ chối giải quyết. Ngược lại nếu điều lệ trọng tài của tổ chức trọng tài cho phép giải quyết tranh chấp bằng quy tắc tố tụng không phải là quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó thì hội đồng trọng tài sẽ được thiết lập để giải quyết tranh chấp theo quy tắc tố tụng trọng tài mà các bên đã lựa chọn. Đây chính là trọng tài lai.
Tổ chức trọng tài được chọn giải quyết tranh chấp trong trọng tài lai chủ yếu cung cấp các dịch vụ hành chính trong khuôn khổ tố tụng trọng tài như quản lý tài chính vụ kiện trọng tài, quản lý hành chính vụ kiện, thực hiện chức năng giám sát theo quy tắc tố tụng các bên đã chọn, rà soát và ban hành các phán quyết được lập bởi hội đồng trọng tài nếu được hội đồng trọng tài yêu cầu, chỉ định trọng tài viên. Ví dụ, một tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài được các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn VIAC giải quyết những tố tụng trọng tài phải tuân theo Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL 2010. Thực tế VIAC đã từng chấp nhận giải quyết tranh chấp như vậy bởi theo điều lệ của nó cũng như luật pháp Việt Nam hiện hành không cấm loại trọng tài này.
Trong thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã gặp rất nhiều các thỏa thuận trọng tài mà trong đó, các bên (trong đó thường là có một bên Việt Nam) lựa chọn VIAC nơi thụ lý các tranh chấp của mình nhưng lại thỏa thuận áp dụng quy tắc tố tụng của Tòa trọng tài quốc tế ICC (the ICC Rules of arbitration), của Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore (the SIAC Rules of Arbitration) tổ chức trọng tài này cho phép giải quyết tranh chấp tại đây bằng Quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL (1976, 2010,2013) hay của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế Liên Hiệp Quốc – UNCITRAL (UNCITRAL Arbitration Rules),v.v..
2. Trọng tài vụ việc (Ad-hoc arbitration)
Trọng tài vụ việc trong tiếng Anh là Ad-hoc arbitration. Trọng tài vụ việc (Ad-hoc arbitration) là hình thức trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải quyết xong vụ tranh chấp đó. Trọng tài vụ việc không có trụ sở và bộ máy cố định, không có danh sách trọng tài viên và không có qui tắc tố tụng riêng.
Xác định địa điểm tổ chức trọng tài vụ việc là vô cùng quan trọng, bởi hầu hết các khó khăn liên quan đến tiến hành trọng tài vụ việc như việc chỉ định trọng tài viên, khoản thù lao,... sẽ phải giải quyết theo luật quốc gia của nơi tiến hành trọng tài.
Trọng tài vụ việc thường được thành lập theo sự thỏa thuận của các bên sau khi tranh chấp đã xảy ra.
2.1. Ưu điểm của trọng tài Ad-hoc
Một trong những ưu điểm nổi bật của hình thức trọng tài này là đáp ứng được ước vọng của các bên và thực tế của một tranh chấp cụ thể. Trên cơ sở thực tế của tranh chấp như khối lượng tài liệu cần xử lý, số lượng nhân chứng sẽ được mời, khả năng tài chính của mỗi bên, mà các bên sẽ thiết lập các quy tắc trọng tài phù hợp. Một ưu điểm nữa cần nhắc tới, đó là khả năng tiết kiệm tiền bạc và thời gian của các bên bằng cách thay đổi các thủ tục tố tụng (thường là rút ngắn các thủ tục tố tụng), không phải thanh toán các chi phí cho dịch vụ hành chính. Nhìn chung, những ưu điểm của trọng tài Ad-hoc lại là hạn chế của trọng tài thường trực.
Thực chất, các bên ủng hộ trọng tài ad-hoc khi họ muốn có quyền kiểm soát thủ tục trọng tài, thay vì chịu sự quản lý hoặc kiểm soát của tổ chức và khi số tiền tranh chấp không đáng kể.
Trọng tài ad-hoc có thể rẻ hơn trọng tài thường trực vì không có thư ký tổ chức để trả. Tuy nhiên ngay cả trong trọng tài ad-hoc, bản thân các trọng tài (hoặc một thư ký do họ bổ nhiệm) sẽ cần thực hiện các chức năng quản trị cơ bản, có thể phải chịu các chi phí bằng hoặc lớn hơn chi phí của một tổ chức trọng tài. Ngoài ra,, nếu cần can thiệp tư pháp, chi phí đại diện trong các vụ án có thể là đáng kể.
Ngoài ra còn có nhận thức rằng trọng tài ad-hoc bí mật hơn một chút so với trọng tài thường trực, vì nó không liên quan đến nhân viên hành chính thể chế. Tuy nhiên,, chúng ta phải nhấn mạnh rằng các tổ chức trọng tài phải tuân thủ nghĩa vụ bảo mật và những rủi ro lớn nhất của việc tiết lộ công khai thường đến từ chính các bên và từ các thủ tục thực thi sau xét xử.
2.2. Hạn chế của trọng tài Ad-hoc
- Giải quyết tranh chấp của trọng tài vụ việc là do các bên tự thỏa thuận chứ không theo một quy tắc nào cả nếu các bên không thể hợp tác được với nhau để giải quyết những vấn đề này, sẽ không có bộ quy tắc sẵn có nào được áp dụng để giải quyết. Nguyên tắc chung được pháp luật nhiều nước thừa nhận cho trường hợp này là, nhờ tới sự trợ giúp của toà án quốc gia nơi tiến hành trọng tài. Điều này thường phiền hà và mất nhiều thời gian bởi các quy định về tố tụng tòa án. Nói chung, những rủi ro rất dễ xảy ra đối với hình thức trọng tài này nếu các bên không có thiện chí hợp tác giải quyết tranh chấp. Và lúc đó, sự can thiệp của tòa án là không thể tránh khỏi, điều mà các bên tranh chấp không muốn khi lập thoả thuận trọng tài.
- Vì không có biểu phí cố định như trọng tài thường trực, Hội đồng Trọng tài ấn định và phân bổ phí trọng tài phù hợp thỏa thuận các bên và Điều 40 và Điều 42 UAR. Khác với trọng tài quy chế, phí trọng tài là do Trung tâm Trọng tài quy định, bao gồm cả thù lao của Hội đồng trọng tài các bên phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề phí với trọng tài viên, các bên có thể phải thỏa thuận trả thù lao theo giờ, hay theo ngày làm việc, và kết quả là tổng chi phí cuối cùng có thể cao hơn chi phí mà các bên phải trả nếu đưa tranh chấp tới một tổ chức trọng tài. Ngoài ra, một số trọng tài viên do ý thức đạo đức nghề nghiệp, sẽ bối rối và có thể bị phân tâm khi xét xử bởi việc vừa trực tiếp xét xử vừa thu tiền phí trọng tài.
- Do tự thiết lập thủ tục tố tụng trọng tài và không có cơ quan nào giám sát quá trình trọng tài cũng như các trọng tài viên, nên kêt quả giải quyết tranh châp phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ và sự điều khiển của hội đồng trọng tài. Vì vậy, bất kỳ sơ xuất nào liên quan tới thủ tục trọng tài đều có thể dẫn tới nguy cơ vô hiệu của phán quyết trọng tài.
3. Trọng tài thường trực (trọng tài thiết chế)
Trọng tài thể chế được thực hiện theo các quy tắc tố tụng được công bố bởi một tổ chức trọng tài cụ thể (một trung tâm trọng tài) trọng tài được quản lý bởi một tổ chức trọng tài nhất định và tuân theo những quy tắc trọng tài của tổ chức trọng tài đó. Ngoài quy tắc riêng, mỗi tổ chức trọng tài còn có danh sách trọng tài viên của riêng mình và đây là nguồn quan trọng để các bên tranh chấp lựa chọn trọng tài viên khi thành lập hội đồng trọng tài. Nhìn vào danh sách trọng tài viên có thể xác định đẳng cấp của tổ chức trọng tài đó bởi chỉ những tổ chức trọng tài uy tín mới đủ “sức hấp dẫn” sự cộng tác của những trọng tài viên ưu tú.
Các tổ chức này thường có quy định trọng tài riêng, một cơ quan ra quyết định chỉ định trọng tài viên và đưa ra một số quyết định khác, và một nhóm các chuyên gia tổ chức và điều hành trọng tài. Điều quan trọng cần lưu ý là một tổ chức trọng tài không giải quyết tranh chấp thực chất tiềm ẩn giữa các bên hoặc đóng vai trò trọng tài, nhưng, thay vào đó, quản lý các quy trình được tiến hành và quyết định bởi các trọng tài riêng lẻ.
Mỗi tổ chức trọng tài tuỳ theo phạm vi hoạt động và năng lực chuyên môn cũng như khả năng thu hút khách hàng mà được cơ cấu bởi nhiều hay ít cơ quan nhưng thông thường bao gồm: người đứng đầu tổ chức trọng tài (chủ tịch), cơ quan phụ trách về tài chính có nhiệm vụ thu chi tài chính cho tổ chức trọng tài, ban thư ký có nhiệm vụ giúp việc trực tiếp cho hội đồng trọng tài trong suốt quá trình trọng tài như chuẩn bị hồ sơ vụ tranh chấp, tống đạt giấy tờ, thuê địa điểm xét xử khi cần thiết v.v.
Trên thực tế, phần lớn các thỏa thuận trọng tài giữa các bên đều quy định áp dụng bộ quy tắc trọng tài của tổ chức trọng tài được chọn để giải quyết tranh chấp. Một tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là vì trước đó đã có một thỏa thuận trọng tài của các bên nêu rõ tên của tổ chức trọng tài đó. Một thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, không chỉ rõ tên của tổ chức trọng tài giải quyết tranh chấp sẽ có thể bị coi là vô hiệu nếu sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung. Để tránh điều này xảy ra, các tổ chức trọng tài thường đưa ra điều khoản trọng tài mẫu cho các bên tranh chấp tham khảo. Một điều khoản trọng tài mẫu được gợi ý từ Quy tắc trọng tài quốc tế của Hiệp hội
3.1. Ưu điểm của trọng tài thường trực
- Mỗi tổ chức trọng tài thường trực đều có bộ quy tắc trọng tài riêng. Ở trọng tài thường trực khi các bên xảy ra tranh chấp mà một bên không đồng ý với việc lựa chọn tọng tài viên thì sẽ áp dụng bộ quy tắc để lựa chọn trọng tài viên cho bị đơn mà không cần thiết phải tiến hành một thủ tục phiền hà là yêu cầu sự trợ giúp của tòa án đối với việc bổ nhiệm trọng tài viên.
- Trọng tài được thể chế hóa giải phóng các bên khỏi nhu cầu đàm phán và viết các quy tắc tố tụng, trong trường hợp gửi tranh chấp cho một tổ chức trọng tài đòi hỏi phải chấp nhận các quy định tương ứng. Trong thực tế, đàm phán và soạn thảo một điều khoản trọng tài có thể có nghĩa là một nỗ lực đắt giá, chậm và không chắc chắn, đặc biệt không có lời khuyên của chuyên gia, cho sự kiện tranh chấp thường không xảy ra.
- Sự tồn tại của một tổ chức trọng tài, có quy tắc giải quyết vấn đề phí trọng tài, ngăn các bên khỏi bị yêu cầu đàm phán trực tiếp với trọng tài về phí của họ, và điều này sẽ cho phép các trọng tài viên chỉ tập trung vào giải quyết tranh chấp, thay vì thảo luận một vấn đề cá nhân với các bên.
- Hầu hết các tổ chức trọng tài thường trực đều có đội ngũ trọng tài viên theo danh sách trọng tài viên của tổ chức trọng tài và nhân viên hành chính được đào tạo chuyên nghiệp về giám sát và quản lý trọng tài. Đội ngũ nhân viên này có thể trợ giúp trong toàn bộ quá trình trọng tài như: giúp các bên có thể lựa chọn được một hội đồng trọng tài phù hợp, giám sát việc thanh toán các khoản chi phí trọng tài, ấn định phí trọng tài theo quy định chung của tổ chức trọng tài, kiểm soát các khoảng thời gian trong từng giai đoạn trọng tài như việc thông báo cho hội đồng trọng tài về khoảng thời gian phải ban hành quyết định trọng tài, nếu đến hạn cuối cùng, quyết định chưa được ban hành thì tổ chức trọng tài có thể gia hạn...
3.2. Hạn chế của trọng tài thường trực
Ngoài những ưu điểm trong, trọng tài thường trực có một số nhược điểm sau:
- Chi phí cho quá trình trọng tài này thường khá đắt, bởi vì ngoài phí trả cho trọng tài viên ra, các bên còn phải thanh toán các khoản liên quan tới dịch vụ hành chính.
- Các thủ tục hành chính đôi khi tiêu tốn một khoảng thời gian đáng kể và điều này là không phù hợp với những vụ việc yêu cầu xét xử nhanh. Hội đồng Trọng tài phải chờ đợi sự chuẩn bị hồ sơ từ nhân viên hành chính giúp việc, cũng như các thủ tục hành chính khác mà không thể tự ý cắt đứt những công đoạn kéo dài thời gian xét xử như vậy dù đôi khi những thủ tục này có thể không thực sự cần thiết trong một giai đoạn xét xử nào đó. Sự cứng nhắc này có thể làm ảnh hưởng tới tốc độ trọng tài (nếu so với trọng tài Ad-hoc), tuy nhiên, các bên tranh chấp vẫn phải tuân theo nếu đã chọn tổ chức trọng tài đó và áp dụng quy tắc tố tụng của nó.
Ở Việt Nam, trọng tài thường trực cũng được ghi nhận trong pháp luật trọng tài hiện hành với tên gọi là trọng tài quy chế. Khoản 6 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 quy định: "Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó." Các vấn đề liên quan tới thủ tục đăng ký hoạt động, chấm dứt hoạt động, thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh Trung tâm trọng tài; thủ tục thành lập, đăng ký hoạt động, chấm dứt hoạt động, thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, được quy định rõ trong Nghị định số 63/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 07 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài Thương mại.
Hiện nay có 18 tổ chức trọng tài của Việt Nam đang hoạt động với tư cách là các tổ chức phi chính phủ với chức năng giải quyết các tranh chấp thương mại nội địa và tranh chấp thương mại quốc tế (có yếu tố nước ngoài). Ngoài Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam có bề dày hoạt động thì các trung tâm trọng tài còn lại đều là những tổ chức trọng tài mới được thành lập trong những năm gần đây. về mặt tổ chức, đứng đầu các trung tâm trọng tài này là chủ tịch trung tâm trọng tài. Bộ phận giúp việc cho trung tâm thường bao gồm thư ký, bộ phận kế toán, hành chính. Bên cạnh danh sách trọng tài viên, mỗi trung tâm trọng tài đều có điều lệ và bộ quy tắc tố tụng trọng tài riêng.
Bài viết được Luật Minh Khuê phân tích & tổng hợp