Để không còn tình trạng này và tạo sự công bằng trong nhân dân và để công tác tuyên truyền được sâu rộng, tôi rất mong luật sư tư vấn giúp tôi "để truy tố một thanh niên trước pháp luật" phải cần có các quy trình gì và thủ tục pháp lý ra sao ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: HN

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào anh, Đối với nội dung yêu cầu này, chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp luật:  

Luật Nghĩa vụ quân sự 1981;

- Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 21 tháng 12 năm 1990, lần thứ 2 ngày 22 tháng 6 năm 1994 và đã được sửa đổi đổi ngày 14 tháng 6 năm 2005.

Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003;

Nghị định số 120/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu.

Thông tư số 95/2014/TT-BQP hướng dẫn thi hành nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trogn lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu.

2. Giải quyết yêu cầu: 

1. Xét hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ quân sự

Thứ nhất, Căn cứ Luật Nghĩa vụ quân sự 1981, sửa đổi bổ sung năm 2005 quy định về Nghĩa vụ quân sự sẽ được quy định và áp dụng với các đối tượng như sau:

Điều 3:“Công dân nam  giới không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam”

Tại Điều 12: Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi”.

Điều 22 quy định nghĩa vụ của các công dân khi được gọi nhập ngũ phải tuân thủ các quy định sau: “Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú”.

Như vậy, theo Luật nghĩa vụ quân sự, thì công dân nam đủ mười tám tuổi là được gọi nhập ngũ. Những công dân  khi có lệnh gọi nhập ngũ, phải có mặt đúng thời gian và địa điểm theo quy định.  Đây là Nghĩa vụ mà pháp luật và nhà nước quy định đối với mọi công dân nam khi đủ tuổi được gọi nhập ngũ. Do vậy, mọi công dân, nếu đáp ứng đủ điều kiện mà pháp luật quy định và được goi nhập ngũ cần phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Người nào có hành vi chống đối, thậm chí còn có những lời lẽ thách thức chính quyền nhằm không cho con em mình tham gia nghĩa vụ quân sự thì tùy mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, Xử phạt hành chính

Căn cứ Điều 9 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP quy định về mức xử phạt như sau:

Điều 9. Vi phạm các quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không bố trí sắp xếp thời gian, không tạo điều kiện cho công dân thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự, sơ tuyển nghĩa vụ quân sự, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện lệnh gọi nhập ngũ.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cản trở người có trách nhiệm thi hành nhiệm vụ về đăng kí nghĩa vụ quân sự, sơ tuyển nghĩa vụ quân sự, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện lệnh gọi nhập ngũ.”

Hành vi cản trở tại khoản 2 Điều 9 nêu trên được giải thích như sau:

 “Điều 8. Hành vi “cản trở” quy định tại Khoản 2 Điều 9, Khoản 2 Điều 21, Khoản 3 Điều 23 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP

1. Hành vi “cản trở” quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP là hành vi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, thể hiện bằng một trong các hành vi sau:

a) Không thông báo hoặc thông báo chậm các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ.

b) Dùng lời nói, hành động ngăn cản, đe dọa về vật chất hoặc tinh thần đối với người có trách nhiệm thi hành nhiệm vụ về đăng ký nghĩa vụ quân sự, sơ tuyển nghĩa vụ quân sự, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện lệnh gọi nhập ngũ”

Thứ hai, truy cứu trách nhiệm hình sự

Căn cứ vào tính chất và mức độ của từng hành vi của người cố tình trốn tránh trách nhiệm nghĩa vụ quân sự sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu khi có đủ dấu hiện hình sự theo Bộ luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 theo các quy định sau:

“Điều 259. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật  về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của mình;

b) Phạm tội trong thời chiến;

c) Lôi kéo người khác phạm tội.”

“Điều 262. Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1.  Người nào cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trong thời chiến, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.   

2. Quy trình, thủ tục xử lý hành vi vi phạm

Đối với những trường hợp vi phạm quy định về nghĩa vụ quân sự, anh thuộc Ban chỉ huy quân sự cấp xã thì anh có quyền lập biên bản về những hành vi vi phạm nêu trên. Sau đó, báo cáo tình hình về Chủ tịch UBND cấp xã (có thẩm quyền xử phạt tiền đến 5.000.000 đồng) hoặc Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an (có thẩm quyền phạt tiền đến 2.500.000 đồng) để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 120/2013/NĐ-CP.

Điều 43. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng

1. Những người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 42 của Nghị định này.

2. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp Quân đội nhân dân Việt Nam; sỹ quan Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ.

3. Công chức đang thi hành công vụ, nhiệm vụ.”

Đối với những trường hợp có thể truy cứu trách nhiệm hình sự, anh vẫn có quyền lập biên bản về hành vi vi phạm và báo cáo tình hình về Cơ quan điều tra để khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê