1. Khái niệm quyền dân tộc tự quyết

Quyền dân tộc tự quyết là quyền tự mình định đoạt những công việc thuộc về vận mệnh của dân tộc mình, như lập ra một nhà nước dân tộc riêng, độc lập, hoặc cùng với các dân tộc khác thành lập một nhà nước nhiều dân tộc trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.

Quyền của một dân tộc tự quyết định là một nguyên tắc chung trong luật pháp quốc tế hiện đại (thường được coi là quy tắc jus cogens ), ràng buộc, như vậy, trên Liên Hợp Quốc như là sự giải thích có thẩm quyền các tiêu chuẩn của Hiến chương. Nó tuyên bố rằng một dân tộc, dựa trên tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền và bình đẳng công bằng của cơ hội, có quyền tự do lựa chọn chủ quyền của họ và tình trạng chính trị quốc tế mà không có sự can thiệp.

Khái niệm này lần đầu tiên được thể hiện trong những năm 1860, và lan truyền nhanh chóng sau đó. Trong và sau Thế chiến thứ nhất, nguyên tắc được khuyến khích bởi cả Vladimir Lenin và Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson. Sau khi công bố điểm mười bốn của mình vào ngày 8 tháng 1 năm 1918, ngày 11 tháng 2 năm 1918, Wilson tuyên bố: "các nguyện vọng quốc gia phải được tôn trọng, người dân bây giờ có thể bị chi phối và cai trị chỉ bởi sự đồng ý của họ." Quyền tự quyết không chỉ là một cụm từ; nguyên tắc bắt buộc của hành động".

Trong thế chiến II, nguyên tắc được đưa vào Hiến chương Đại Tây Dương, được ký vào ngày 14 tháng 8 năm 1941, bởi Franklin D. Roosevelt, Tổng thống Hoa Kỳ, và Winston Churchill, Thủ tướng Anh, người đã cam kết Tám điểm chính của Hiến chương. . Nó được công nhận là một quyền hợp pháp quốc tế sau khi nó được liệt kê rõ ràng như là một quyền trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Nguyên tắc không nêu rõ quyết định được đưa ra như thế nào, cũng không phải kết quả là gì, cho dù đó là độc lập, liên bang, bảo vệ, một số hình thức tự chủ hoặc đồng hóa đầy đủ.[9] Nó cũng không nêu rõ sự phân biệt giữa các dân tộc - cũng như những gì tạo nên một con người. Có các định nghĩa mâu thuẫn và tiêu chí pháp lý để xác định nhóm nào có thể yêu cầu quyền tự quyết định một cách hợp pháp.

Bằng cách mở rộng, thuật ngữ tự quyết định có nghĩa là sự lựa chọn tự do của một hành vi của riêng mình mà không có sự ép buộc bên ngoài.

Quyển dân tộc tự quyết được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện nay.

2. Nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết

“Quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. Khoản 2 điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận “phát triển quán hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”. Như vậy, khái niệm “dân tộc tự quyết” được nhắc đến trong Hiến chương Liên hợp quốc không phải là quyền tự quyết của dân tộc theo nghĩa là sự tập hợp của các sắc tộc hoặc quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số trong từng quốc gia. Quyền dân tộc tự quyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định – chủ thể luật quốc tế.

* Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã khẳng định “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thực thể hiện quyền dân tộc tự quyết”. Như vậy, nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau:

– Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;

– Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;

– Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;

– Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;

– Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng.

Ngoại lệ của nguyên tắc

Nguyên tắc này không thừa nhận bất kỳ ngoại lệ nào.

3. Quyền dân tộc tự quyết trong pháp luật quốc tế  

    Tôn trọng quyền của các dân tộc được tự do lựa chọn con đường và hình thức phát triển là một trong những cơ sở quan trọng để thiết lập các quan hệ quốc tế. Quyền này được thể hiện một cách tập trung nhất trong nguyên tắc dân tộc tự quyết, dựa trên nền tảng chủ quyền dân tộc. Theo đó, quyền dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Liên hợp quốc.

    Khoản 2 Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận “phát triển quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”. Như vậy, khái niệm “dân tộc tự quyết” được nhắc đến trong Hiến chương Liên hợp quốc không phải là quyền đòi ly khai hay đòi độc lập của một hay nhiều nhóm sắc tộc, dân tộc thiểu số vốn đã là những thành phần trong một quốc gia - dân tộc thống nhất. Quyền dân tộc tự quyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định - chủ thể luật quốc tế.

    Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã khẳng định “việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết”. Nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau: 

    - Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện; 

    - Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;

    - Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;

    - Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;

    - Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

    Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng. Như vậy, “quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một “quốc gia - dân tộc” hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. 

4. Quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế

    Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận trong hai Công ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc (UDHR) năm 1948: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị mà quyền dân tộc thiểu số được coi là quyền cơ bản trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó, điều đó có nghĩa là người dân tộc thiểu số có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa như những người thuộc dân tộc đa số trong xã hội, hoàn toàn bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.

    Bên cạnh việc ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, pháp luật quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước phải bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số quyền được hưởng nền văn hóa, ngôn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình. Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 ghi: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này” (Điều 1). 

    Như vậy, quyền dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc thúc đẩy và thường xuyên thực hiện quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ như là một phần gắn liền trong sự phát triển xã hội nói chung và khuôn khổ dân chủ, pháp luật nói riêng, góp phần vào việc tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia.

 5. Nhận thức về quyền dân tộc tự quyết được vận dụng ở nước ta như thế nào

    Từ những quy định trên trong pháp luật quốc tế, có thể thấy nội hàm của quyền dân tộc tự quyết và quyền dân tộc thiểu số là không đồng nhất và hoàn toàn khác nhau. Thứ nhất, chủ thể hưởng thụ của hai nhóm quyền này là khác nhau, đối với quyền dân tộc thiểu số, chủ thể hưởng thụ quyền là các dân tộc thiểu số trong các quốc gia, đồng thời pháp luật quốc tế quy định trách nhiệm của các quốc gia bảo đảm để cho các dân tộc thiểu số trong quốc gia mình được hưởng thụ quyền dựa trên điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia; đối với quyền dân tộc tự quyết chủ thể hưởng thụ quyền là “dân tộc - quốc gia” không đồng nhất với chủ thể quyền “dân tộc thiểu số” là một bộ phận trong “dân tộc - quốc gia”, có nghĩa là tập thể một “dân tộc - quốc gia” chứ không phải là một dân tộc thiểu số trong một quốc gia; Thứ hai, quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế về nhân quyền hoàn toàn không có hàm ý là quyền dân tộc tự quyết, bởi không có bất cứ một quy định của pháp luật quốc tế cho rằng một nhóm dân tộc thiểu số ở một quốc gia nào đó có quyền được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập với quốc gia được quốc tế công nhận mà họ là cư dân đang tồn tại trong quốc gia đó.

    Từ phân tích trên, có thể thấy nhận diện đúng về nội hàm trong quy định của pháp luật quốc tế về hai nhóm quyền này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và công tác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hiện nay. Thực tế trên thế giới, một số vụ việc đã diễn ra từ việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết là căn cứ cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập là chủ thể của luật quốc tế, thực hiện sự nghiệp bảo vệ quyền tự quyết thiêng liêng, bất khả xâm phạm cho dân tộc mình, trong đó cuộc ly khai của người dân Đông Timor và Kosovo là điển hình, dù có sự giúp đỡ từ các thế lực bên ngoài nhưng việc bảo vệ quyền độc lập tự chủ của các dân tộc này là minh chứng về vấn đề bảo đảm quyền dân tộc thiểu số, thực hiện quyền dân tộc tự quyết trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp. Một minh chứng khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, không đơn thuần là tương trợ, hợp tác kinh tế đôi bên cùng có lợi, vì những lợi ích khác nhau mà nhiều thế lực đã lợi dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết tạo ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa, cuộc nội chiến, ly khai lấy cớ vì mục đích cao cả chống khủng bố, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, nhưng thực chất lại mang tính vụ lợi trong đó như cuộc chiến tại Iraq, Afghanistan và Libya…

    Có thể khẳng định, trong xu thế toàn cầu hóa, các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau, có quan hệ hợp tác ngày càng rộng rãi và chặt chẽ, đồng thời  phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ càng khiến cho giá trị của độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết cần được khẳng định hơn bao giờ hết. Với tư cách là một “quốc gia - dân tộc” có chủ quyền, chủ thể của pháp luật quốc tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức đúng đắn vấn đề thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Trong Hiến pháp năm 2013, quyền dân tộc tự quyết tiếp tục được khẳng định “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị” (Điều 11). Hơn nữa, với vai trò là thành viên của các điều ước quốc tế, thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam luôn thể hiện trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm thực thi các quyền con người, trong đó quyền của các dân tộc thiểu số luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). Cùng với việc hiến định về quyền của các dân tộc thiểu số, Việt Nam đã và đang thực hiện hiệu quả những chính sách, pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số khiến cho đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày một nâng cao, bên cạnh đó, các quyền đặc thù của các dân tộc thiểu số như quyền được giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, quyền được Nhà nước hỗ trợ phát triển đã tạo ra sự bình đẳng cho các dân tộc thiểu số khi tham gia các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Nhận thức đúng đắn về quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc thiểu số và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm thực hiện những quyền này sẽ góp phần ngăn chặn những hành vi của những kẻ phản dân, hại nước luôn có âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số để tiến hành các hoạt động lôi kéo, kích động bạo lực, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, thiết nghĩ đây là điều rất cần thiết trong nhận thức đối với mỗi đồng bào dân tộc thiểu số, mỗi cán bộ ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số hiện nay.