1. Được khám chuyên khoa phụ sản 1 lần/năm

Dựa vào các quy định cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 21 trong Luật An toàn và Vệ sinh Lao động cũng như khoản 1 của Điều 80 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người lao động được quyền thực hiện khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong mỗi năm. Đối với những đối tượng lao động thực hiện các công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc thuộc nhóm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, bao gồm cả những người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, và người lao động cao tuổi, quy định yêu cầu rằng họ phải được khám sức khỏe định kỳ ít nhất sáu tháng một lần để đảm bảo sức khỏe và an toàn trong quá trình làm việc.

 

2. Được nghỉ 30 phút/ngày trong thời gian hành kinh

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 của Điều 137 trong Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 3 của Điều 80 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền nghỉ 30 phút mỗi ngày. Thời gian nghỉ này được tính vào giờ làm việc và lao động nữ sẽ được hưởng đủ lương theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

 

3. Được nghỉ 60 phút/ngày trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 137 của Bộ luật Lao động năm 2019, cùng với Khoản 4 Điều 80 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, các quy định liên quan đến quyền lợi của lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nêu rõ như sau: Trong thời gian làm việc, lao động nữ có quyền được nghỉ 60 phút mỗi ngày để thực hiện các hoạt động liên quan đến việc cho con bú, vắt sữa, trữ sữa và nghỉ ngơi. Đặc biệt, thời gian nghỉ này không ảnh hưởng đến mức lương mà lao động nữ nhận được, và họ vẫn sẽ được hưởng đủ tiền lương theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng lao động của mình.

 

4. Được chuyển công việc nhẹ hơn khi mang thai và nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Theo quy định tại khoản 2 Điều 137 của Bộ luật Lao động năm 2019, đối với những lao động nữ đang đảm nhiệm các nghề nghiệp hoặc công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc những công việc đặc biệt có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc các công việc có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng sinh sản và việc nuôi con khi đang mang thai, nếu lao động nữ đó đã thông báo cho người sử dụng lao động về tình trạng của mình, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chuyển đổi công việc cho lao động nữ sang một công việc nhẹ nhàng hơn, an toàn hơn. Trong trường hợp này, lao động nữ sẽ không bị cắt giảm tiền lương cũng như các quyền lợi và lợi ích khác cho đến khi hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

 

5. Không phải làm đêm, làm thêm, đi công tác xa khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 137 của Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được phép yêu cầu lao động nữ thực hiện công việc vào ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa trong những trường hợp cụ thể sau đây: Thứ nhất, khi lao động nữ đang mang thai từ tháng thứ bảy trở đi hoặc từ tháng thứ sáu trở đi nếu công việc được thực hiện ở các khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới hoặc hải đảo. Thứ hai, khi lao động nữ đang trong thời gian nuôi dưỡng con dưới 12 tháng tuổi.

 

6. Được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới khi hợp đồng hết hạn trong thời gian mang thai hoặc nuôi con nhỏ

Theo quy định tại khoản 3, Điều 137 của Bộ luật Lao động 2019, nếu hợp đồng lao động của một người lao động nữ hết hạn trong thời gian cô ấy đang mang thai hoặc đang trong giai đoạn nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì người lao động nữ đó sẽ được ưu tiên trong việc ký kết hợp đồng lao động mới. Điều này có nghĩa là người sử dụng lao động có nghĩa vụ ưu tiên xem xét và giao kết hợp đồng lao động mới cho người lao động nữ trong những trường hợp đặc biệt này.

 

7. Không bị xử lý kỷ luật khi mang thai và nuôi con nhỏ

Bên cạnh đó, theo điểm d khoản 4, Điều 122 của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được phép xử lý kỷ luật đối với người lao động trong thời gian họ đang mang thai, đang nghỉ thai sản, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong giai đoạn nhạy cảm và quan trọng này, đảm bảo rằng họ không bị xử lý kỷ luật, dù có vi phạm nội quy lao động trong thời gian này. Do đó, lao động nữ sẽ không phải chịu hình thức xử lý kỷ luật nào trong khoảng thời gian mang thai và nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

 

8. Được nghỉ thai sản trước và sau sinh con 6 tháng

Theo Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, chế độ thai sản dành cho lao động nữ được quy định như sau:

Lao động nữ có quyền được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con tổng cộng là 06 tháng. Thời gian nghỉ thai sản trước khi sinh con không được vượt quá 02 tháng. Nếu lao động nữ sinh đôi hoặc sinh nhiều hơn hai con, thì từ con thứ hai trở đi, mỗi con thêm sẽ được cộng thêm 01 tháng nghỉ thai sản.

Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ sẽ được hưởng các quyền lợi chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Sau khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu lao động nữ có nhu cầu và được sự đồng ý của người sử dụng lao động, có thể xin nghỉ thêm một khoảng thời gian không hưởng lương.

 

9. Được đảm bảo việc làm sau chế độ thai sản

Điều 140 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định rằng khi người lao động trở lại làm việc sau khi đã hoàn tất thời gian nghỉ theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật Lao động năm 2019, họ phải được đảm bảo việc làm cũ của mình mà không bị giảm bớt tiền lương cũng như các quyền lợi và lợi ích so với trước khi nghỉ thai sản. Nếu trong trường hợp việc làm cũ không còn tồn tại, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm phải sắp xếp một công việc khác cho người lao động đó, và mức lương của công việc mới không được thấp hơn mức lương của công việc trước khi người lao động nghỉ thai sản.

 

10. Không bị sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Điều 137 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định một cách rõ ràng và nghiêm ngặt rằng người sử dụng lao động không được phép sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động dưới bất kỳ hình thức nào, nếu lý do liên quan đến các tình huống sau đây: việc kết hôn của người lao động, sự mang thai của họ, việc nghỉ thai sản, hoặc việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái dưới 12 tháng tuổi. Những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong những tình huống đặc biệt và nhạy cảm, đảm bảo rằng họ không phải đối mặt với sự phân biệt hoặc thiệt thòi về mặt công việc do những yếu tố này.

 

11. Được lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ nếu doanh nghiệp sử dụng hơn 1.000 lao động nữ

Khoản 5 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định rằng khi một người sử dụng lao động có từ 1000 lao động nữ trở lên, thì phải đảm bảo lắp đặt một phòng chuyên dụng cho việc vắt và bảo quản sữa mẹ tại nơi làm việc. Đồng thời, Nghị định cũng khuyến khích các nhà tuyển dụng triển khai việc lắp đặt phòng vắt và trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở làm việc, đáp ứng nhu cầu của lao động nữ và nằm trong khả năng tài chính của người sử dụng lao động.

12. Được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi mang thai

Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Lao động năm 2019, trong trường hợp lao động nữ đang mang thai tiếp tục làm việc và công việc đó có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của thai nhi, và nếu có chứng nhận từ cơ sở khám chữa bệnh xác nhận rằng tình trạng làm việc hiện tại có thể gây nguy hiểm cho thai nhi, thì lao động nữ có quyền thực hiện việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Trong tình huống này, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của lao động nữ vẫn được coi là hợp pháp, mặc dù không tuân thủ đầy đủ thời gian thông báo trước theo quy định của pháp luật.

 

13. Được tạm hoãn hợp đồng lao động khi mang thai

Điều 138 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định rằng lao động nữ đang mang thai có quyền được tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nếu có xác nhận từ cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền cho thấy việc tiếp tục làm việc sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của thai nhi. Theo quy định này, khi lao động nữ mang thai muốn tạm hoãn hợp đồng lao động, cô ấy cần phải thông báo cho người sử dụng lao động và đồng thời cung cấp xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh để chứng minh rằng việc làm việc tiếp tục sẽ không đảm bảo an toàn cho thai nhi.

 

14. Bình đẳng với lao động nam về lương, thưởng, thăng tiến

Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quyền bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến việc làm. Cụ thể, người sử dụng lao động phải thực hiện các biện pháp đảm bảo sự bình đẳng giới trong các hoạt động như tuyển dụng, sử dụng lao động, đào tạo, trả lương, khen thưởng, thăng tiến, cũng như các chế độ liên quan đến bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, các yếu tố khác như điều kiện làm việc, an toàn lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, quyền lợi khi ốm đau, thai sản, cũng như các chế độ phúc lợi khác về vật chất và tinh thần cũng phải được đảm bảo để duy trì sự công bằng giữa lao động nữ và lao động nam.

 

15. Được hưởng BHXH chế độ thai sản

Về chế độ thai sản, căn cứ theo Điều 32 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, lao động nữ có quyền nghỉ việc để đi khám thai trong thời gian mang thai với số lần là 05 lần, mỗi lần nghỉ một ngày. Trong trường hợp lao động nữ phải đến cơ sở khám chữa bệnh xa hoặc có tình trạng sức khỏe thai kỳ đặc biệt như bệnh lý hoặc thai không bình thường, thì có quyền nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.

Khi sinh con, lao động nữ sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản với tổng thời gian là 06 tháng, bao gồm cả thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con.

Bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau: Chế độ làm việc đối với lao động nữ sau khi sinh
Bạn đọc có thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 19006162 hoặc thông qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn