1. Quyền nuôi con sau khi ly hôn đơn phương giải quyết thế nào ?

Thưa luật sư, tôi và vợ tôi kết hôn từ năm 2010. Tháng 10/2013 vợ tôi sinh con đầu lòng và về sống tại nhà mẹ đẻ (nhà mẹ vợ tôi) đến nay. Tôi hàng tháng vẫn chuyển tiền để nuôi vợ và con tôi, đồng thời thứ 7, chủ nhật hàng tuần tôi đều về thăm vợ và con tôi, vì nhà tôi và cơ quan tôi làm việc cách nhà bố, mẹ vợ tôi đến 60km nên tôi không thể mỗi ngày mỗi về. Đến tháng 10/2015 con tôi được 02 tuổi thì vợ tôi xin đi làm lại và tôi không gửi tiền cho vợ tôi nữa. Tuy nhiên đến tháng 12/2015 tôi kêu vợ tôi mang con về nhà tôi sống thì vợ tôi không đồng ý, và cũng không cho tôi mang con về thăm bà nội mà vợ tôi nói nếu muốn thì tôi và bà nội chỉ được tới thăm thôi chứ tôi không được mang con đi đâu hết. Từ đó (12/2015) đến nay vì bận việc nên tôi không về thăm vợ và con tôi nửa. Đến 20/3/2016 tôi có nhắn tin hỏi vợ tôi vậy có về nhà tôi sống nửa không thì vợi tôi vẫn nói không về và cũng không cho tôi đón con tôi về.
Vậy với tình trạng hiện nay như nêu trên xin hỏi Luật sư tôi đơn phương xin ly hôn có đúng pháp luật không? và khi ly hôn thì tôi có giành được quyền nuôi con không vì hiện nay con tôi mới được 30 tháng ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì " Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn". Do đó, nếu vợ bạn không đồng ý ký vào đơn thì bạn có thể làm đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên.

* Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

* Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tại điểm a, khoản 1, Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, nên trường hợp này bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ (chồng) bạn cư trú.

Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Như vậy, vì vợ bạn muốn nuôi con nên nếu cô ấy đủ điều kiện thì người nuôi con sẽ là vợ bạn do con bạn dưới 36 tháng tuổi.

2. Hỏi về vấn đề chia tài sản và quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi hiện đang là nhân viên kinh doanh một công ty máy tính tại Hà Nội. Qua tìm hiểu thông tin, tôi thấy mình có thể tin tưởng vào Quý công ty để trao đổi và tư vấn giúp tôi về luật hôn nhân gia đình. Tôi kết hôn năm 2005 và giờ đã có hai cháu: Một gái lên 9 tuổi và một bé trai 4 tuổi.

Khi tôi chuẩn bị sinh bé đầu thì vợ chồng tôi xây nhà tháng 11-2006 (lúc chưa cưới thì đó chỉ là mảnh đất lợp xi măng). Vợ chồng tôi tích cóp được 40 triệu và có nhờ bố mẹ đẻ tôi cắm sổ đỏ để vây ngân hàng 200 triệu. Chúng tôi xây được ngôi nhà 3,5 tầng nhưng không ở mà cho thuê do tôi mới sinh em bé và phải đi làm. Vợ chồng tôi dọn về nhà mẹ đẻ tôi ở, một phần mẹ tôi chăm cháu còn bố tôi trong coi thợ thuyền xây nhà. Hàng tháng tôi đều lấy tiền thuê nhà và tiền tích lũy của hai vợ chồng để trả nợ ngân hàng. Đến khi cháu lớn được 5 tuổi thì tôi sinh cháu thứ 2, lúc đó chúng tôi có mua ô tô trả góp ngân hàng để cho thuê xe du lịch. Chồng tôi đã bị họ hàng lừa vay 700 triệu mà không trả buộc chúng tôi phải bán chiếc xe đó. Khi đó tôi cũng tích lũy được 400 triệu tiền thuê nhà và tiền bán xe ô tô cũng được khoảng hơn 1 tỷ. Tôi có vay thêm ông chú trong vũng tàu 500 triệu để mua chung cư. Sổ đỏ căn nhà cũ đứng tên chồng tôi được cấp năm 2006, sổ đỏ nhà chung cư đứng tên hai vợ chông tôi năm 2015. Sau khi ly hôn tôi muốn nuôi cả hai cháu để được chăm sóc tốt hơn và tôi muốn hỏi quyền lợi của tôi sẽ được hưởng những gì sau ly hôn vì tôi biết chồng tôi là người rất tham lam sẽ dùng mọi thủ đoạn và sẽ không chia tài sản cho tôi. Tôi cần sự giúp đõ và tư vấn tốt nhất để tôi có điều kiền để nuôi hai cháu. Mong Công ty tư vấn giúp tôi trả lời tôi sớm nhất để tôi tiến hành thủ tục ly hôn nhanh nhất.

Tôi chân thành cám ơn !

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về quyền nuôi con trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

1. Vấn đề nuôi con sau khi ly hôn:

- Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trong trường hợp của này, vợ chồng bạn có thể tự thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Đến thời điểm hiện tại, con gái lớn của bạn đã 9 tuổi, do đó bạn và chồng bạn phải xem xét nguyện vọng muốn được ai là người trực tiếp nuôi của con gái

Ngoài ra, Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn:

Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia đình quy định cụ thể như sau:

Điều 7. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

2. Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

3. Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

5. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

6. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu

Như vậy, đầu tiên vợ chồng bạn có quyền tự thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản, nếu không thỏa thuận được thì bạn có quyền yêu cầu tòa án quận huyện để xem xét và giải quyết. Về khoản nợ ngân hàng 200 triệu nếu chưa trả được, thì đây vẫn là nghĩa vụ chung của cả vợ chồng sau khi đã ly hôn (căn cứ theo Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình). Về chia tài sản chung của 2 vợ chồng như: chung cư, căn nhà 3,5 tầng cũ sẽ được chia căn cứ theo Điều 7 ở trên. Về miếng đất nếu như chứng minh được đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì: Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

>> Tham khảo thêm nội dung: Thủ tục xin ly hôn và giành quyền nuôi con ?

3. Giành quyền nuôi con của Vợ khi ly hôn ?

Kính gửi Luật sư! Tôi xin được hỏi Luật sư: Chúng tôi kết hôn từ năm 2010 và có một con chung là cháu gái sinh năm 2011, giờ cháu đã được 4 tuổi. Tôi là nhân viên của một Doanh nghiệp Nhà nước, có mức thu nhập ổn định, nhà tôi ở TP tôi và chồng tôi sống chung với cha mẹ, do tôi là con một nên không ở riêng, cũng vì lý do này nên gia đình tôi luôn chiều chuộng chồng tôi đủ điều không hề hạch sách hay đòi hỏi gì quá đáng vì chỉ sợ chồng tôi sẽ buồn và nghĩ bị gia đình vợ ăn hiếp hay áp lực.

Chồng tôi là thợ hồ và có mức lương cao hơn tôi nhưng bấp bênh, lúc có lúc không, thích thì làm không thì nghỉ, bên cạnh đó anh còn mê cờ bạc rượu chè càng ngày anh càng hư hỏng, đi đêm đi hôm có khi bỏ rơi 2 mẹ con ở nhà nhậu bạn bè đến 6 giờ sáng về rồi lại xin tiền cha mẹ tôi với lý do không có tiền do thất nghiệp. Bây giờ anh xin thêm việc làm bên Grabbike (dịch vụ xe ôm chuyên nghiệp) nên anh càng có cớ và lý do đi khỏi nhà nhiều hơn có khi đi làm sáng từ 7h đến 17h về xong ăn cơm xong 16h đi luôn, có khi 24h về có khi 7h sáng hôm sau về, tôi hỏi chồng tôi thì anh ấy bảo đi làm, tôi có cài định vị trên điện thoại chồng tôi nhưng anh ấy đều tháo gỡ và chì chiết trách móc tôi xâm phạm quyền riêng tư của anh ấy, nhưng điện thoại và bạn bè tôi thì anh ấy nhắn tin chửi đủ điều khó nghe rồi chửi tôi đàn bà có chồng con không lo dạy con học lo cặp bè bạn đủ thứ... Tất cả vật dụng trong nhà đều do tôi và gia đình tôi bỏ ra, chồng tôi làm chỉ để trả nợ (không biết nợ từ đâu ra), không lúc nào anh dư giả, giờ anh đi làm thêm Grabbike thì lại mượn hộ khẩu để mua đồ theo trả góp, không cho anh mượn anh đập phá, chửi bới gia đình tôi đủ điều, những ai đụng đến hoặc nói anh không nuôi được vợ con chỉ có ăn nhậu cờ bạn bạn bè, thì anh quát tháo và ẵm con đi biệt tăm cả tuần không biết đi đâu, mọi người trong nhà phải năn nỉ kêu anh về với điều kiện anh đặt ra phải cho anh tiền trả nợ 2,3 triệu anh mới ẵm con về, Gia đình bên nhà chồng tôi thì ở tận quê Long Xuyên An giang nên cũng chẳng màng cuộc sống gia đình tôi như thế nào, có gọi điện thoại méc thì cũng như không mọi người uh hử rồi thôi. Khi tôi sinh cháu được 15 tháng, chồng tôi hầu như đi nhậu thâu đêm có khi đi đàn đúm trai gái mà tôi không biết đi đâu, có khi đi vũ trường đi bar với bạn bè thâu đêm suốt sáng, gia đình tôi cũng không nói anh gì, nhưng tôi giận không ngủ chung với anh thì anh liền đánh tôi trong khi tôi đang ngủ với cha mẹ, tôi đi ăn tiệc hoặc đi nghỉ mát do công ty tổ chức thì anh gọi điện hạch sách nói tôi đàn đúm bê tha, hư hỏng, anh nói tôi rằng "thà anh cưới đỉ làm vợ không cưới vợ làm đỉ, cháu ngoại luôn luôn là cháu ngoại nhưng cháu nội chưa chắc, rằng con tôi sinh ra chưa chắc là con anh..." cha mẹ tôi giận chửi anh một chập, khi ông bà bệnh vào bệnh viện cấp cứu thì anh ở nhà gom hết quần áo của con và ẵm đi 1 tháng biệt tăm không liên lạc được, tôi buồn tôi khóc anh chẳng quan tâm, đến 1 tuần sau anh liên lạc về thì anh bảo anh thách cả gia đình tôi mướn giang hồ thách cả công an vào cuộc coi làm gì được anh, bất quá anh liều chết cùng gia đình và con luôn, gia đình tôi lại phải nhượng bộ bỏ tiền ra năng nỉ anh quay về.

Từ khi anh về dù đã cố gắng nhiều năm nhưng tình hình không cải thiện. Khi tôi đề nghị Li hôn, chồng tôi đồng ý nhưng anh lại ra điều kiện con anh mang đi biệt tăm không gặp được đừng trách, Sau đó khi tôi yêu cầu chúng tôi ngồi viết các thỏa thuận khi li hôn thì chồng tôi bắt đầu nói giọng đe dọa, chợ búa, như: Chưa nhìn thấy quan tài chưa đổ lệ, tưởng được nuôi con a? Li hôn thì đừng bao giờ mong nhìn được mặt con. Tôi làm mọi cách để cô không được quyền nuôi con....Tôi có đi đến công anh phường và quận hỏi thì chính quyền địa phương không thụ lý bênh vực vì tôi chưa li hôn anh, tôi có hỏi bên bảo vệ bà mẹ trẻ em hội phụ nữ phường thì lại được trả lời việc gia đình tự dàn xếp bị đánh có 1 lần chưa sao, không có bằng chứng không giải quyết được...

Vậy tôi xin kính hỏi luật sư: Tôi có được ưu tiên nuôi con trong trường hợp này? chồng tôi hay làm liều chơi với giang hồ và anh chị rất nhiều, tôi chỉ sợ khi tôi gửi đơn li hôn nhưng chưa xử thụ lý thì chồng tôi lại ẵm con tôi đi mất và vấn đề ly hôn lại không được do vắng mặt 1 bên. Vậy tôi có quyền khiếu nại không? liệu tôi phải có chứng cớ gì để được quyền nuôi con? Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn và giúp đỡ tôi trong việc này thì tôi phải liên hệ thế nào? Chi phí ra sao?

Rất mong nhận được hồi âm sớm của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về thủ tục ly hôn đơn phương, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như những thông tin mà bạn cung cấp thì có thể thấy được chồng bạn không đồng ý ly hôn và đưa ra các lời đe dọa bạn và gia đình bạn. Như vậy, trường hợp này muốn ly hôn chị phải làm đơn xin ly hôn đơn phương gửi đến Tòa án để yêu cầu giải quyết như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên (Luật hôn nhân và gia đình 2014)

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Về việc giành quyền nuôi con thì Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, để có thể giành được quyền nuôi con, chị phải thu thập được các chứng cứ để chứng minh rằng chồng chị không đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng con chị một cách tốt nhất. Chị có thể đưa ra các căn cứ về các khoản nợ của chồng chị, công việc và thu nhập không ổn định, việc thường xuyên đi nhậu nhẹt, gái gú và cờ bạc có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nhân cách của con. Nếu đưa ra được các căn cứ chứng minh như trên, chị sẽ có khả năng được Tòa án ra quyết định nuôi con.

4. Hướng dẫn về quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Xin chào luật sư. Em có việc kính mong luật sư giúp đỡ. Vợ chồng em không sống được với nhau, nên ly dị nhưng chồng ép em viết trong đơn là: Từ chối quyền nuôi con và dọa giết em trước khi ra tòa, em rất hoang mang và cần luật sư giúp đỡ vì mong muốn của em là được nuôi con, hiện nay con em 9 tuổi ?
Em xin cảm ơn !

Trả lời:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, trong trường hợp vợ chồng bạn không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu bạn chứng minh được bạn có điều kiện vật chất, điều kiện tinh thần và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con tốt hơn hẳn chồng thì bạn có quyền được trực tiếp nuôi con. Ngoài ra, do con bạn đã trên 9 tuổi nên Tòa án cũng phải căn cứ vào nguyện vọng của con để xác định nên giao con cho ai.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Làm sao để giành được quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

5. Quyền nuôi con và chia tài sản sau khi ly hôn ?

Xin chào luật sư. Hiện tại vợ chồng em có bé gái 2 tuổi rưỡi, bây giờ em lại đang mang thai bé thứ 2 được 5 tháng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống, vợ chồng em chưa bao giờ là hòa hợp. Nhất là về mặt kinh kế. Mỗi khi em hỏi anh ta về kinh tế thì anh ta đều cáu gắt và nếu em hỏi nhiều hơn anh ta lại dọa đánh em. Em không thể tiếp tục chung sống với anh ta và muốn được luật sư tư vấn cho em được rõ về thủ tục cũng như quyền và nghĩa vụ của 2 vợ chồng sau khi ly hôn. Em muốn được nuôi cả 2 bé có được không ạ? Về tài sản: Vợ chồng mua 1 mảnh đất trị giá 500 triệu (chưa có sổ bìa đỏ) trong đó có 250 triệu là tiền của 2 vợ chồng làm ra. còn lại là số tiền vay mượn. Anh ta tiếp tục xây nhà trên mảnh đất đó và tiếp tục vay mượn. Món tiền này em không hề biết đến.
Vậy khi ly hôn phần tài sản và nợ chung sẽ được giải quyết như thế nào thưa Luật sư?

Quyền nuôi con và chia tài sản sau khi ly hôn ?

Trả lời:

1. Thủ tục ly hôn.

Do bạn không nói rõ là chồng chị có đồng ý ly hôn hay không nên tôi sẽ chia ra 2 trường hợp như sau:

- Thứ nhất, vợ chồng chị cùng thống nhất ly hôn thì việc ly hôn của anh chị sẽ được thực hiện theo thủ tục thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân. Thủ tục cụ thể chị có thể tham khảo chi tiết tại bài viết thủ tục thuận tình ly hôn.

- Thứ hai, chồng chị không đồng ý ly hôn thì việc ly hôn của chị sẽ được thực hiện theo thủ tục đơn phương ly hôn. Thủ tục cụ thể trong bài viết thủ tục đơn phương ly hôn có hướng dẫn chi tiết nên chị có thể tham khảo. Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định trường hợp một bên yêu cầu việc ly hôn, nếu thấy có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được thì Tòa án sẽ quyết định cho ly hôn.

Theo như chị trình bày thì nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hôn nhân là do người chồng bạo lực, mâu thuẫn giữa vợ chồng căng thẳng không thể giải quyết được. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết, chị phải cung cấp được chứng cứ chứng minh những hành vi trên của chồng chị, trừ trường hợp người chồng tự nguyện thừa nhận. Việc cung cấp chứng cứ chứng minh có thể thông qua lời làm chứng của nhân chứng.

2. Vấn đề nuôi con và tài sản khi ly hôn.

a) Vấn đề nuôi con.


Điều 81
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014có quy định như sau:

" Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên, chị sẽ được trực tiếp nuôi dưỡng cháu bé thứ hai sau khi sinh ra nếu chị đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Còn với cháu gái thứ nhất đã trên 36 tháng tuổi thì Tóa án không đương nhiên ưu tiên chị được trực tiếp nuôi cháu. Nếu chị muốn được trực tiếp nuôi cháu, chị phải chứng minh về khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Nhìn chung Tòa án sẽ dựa trên 2 yếu tố sau:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.

Nếu anh thực sự yêu thương con mình và có đủ khả năng chứng minh trước tòa rằng mình có thể đem lại cho con mình cuộc sống tốt đẹp hơn thì việc bạn giành được quyền nuôi con là hoàn toàn có thể.

Nếu bạn không được trực tiếp nuôi con thì vẫn có quyền được cấp dưỡng và thăm nom cháu bé. Không ai có thể cản trở quyền này của bạn. Do vậy chúng tôi khuyên bạn nên cân nhắc. Nếu bạn thực sự có khả năng để nuôi con một cách đầy đủ nhất, điều đó là tốt. Nhưng nếu bạn thấy vợ bạn là người có thể chăm lo tốt hơn cho con mình thì bạn có thể cân nhắc vấn đề này. Vì qua thông tin bạn đưa ra, có thể việc ly hôn này xuất phát từ chuyện riêng của vợ chồng và hai vợ chồng bạn đều yêu thương con mình. Vậy nên chúng tôi mong bạn và vợ bạn có thể cân nhắc kĩ lưỡng vấn đề này vì tương lai con bạn.

b) Vấn đề tài sản.

Theo Điều 59 và Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

" 2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;..."

"
Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác."

Từ những quy định trên, tất cả tài sản và nghĩa vụ của vợ chồng chị sẽ được chia đôi. Theo đó, giá trị mảnh đất và ngôi nhà sẽ được chia đôi, đồng thời khoản nợ mua đất và xây nhà cũng được chia đôi cho hai vợ, chồng.

3. Nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn

Khi anh chị ly hôn, chị có quyền yêu cầu chồng chị cấp dưỡng tiền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng này không liên quan đến khoản nợ chung của vợ chồng, được quy định cụ thể tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình:

“Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.


Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.

Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bắt buộc đối với người không trực tiếp nuôi con.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp cuyền nuôi con và chi phí khi ly hôn tại tòa án ?

6. Tư vấn cách ly hôn và giải quyết vấn đề quyền nuôi con ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong luật sư giải đáp. Hiện nay tôi và vợ muốn giải quyết ly hôn.Tuy nhiên tôi chưa nắm được nên làm những gì trước ?

Thưa luật sư, tôi và vợ lấy nhau được 5 năm, hiện đang có 2 con trai, một cháu hơn 3 tuổi, một cháu được 5 tháng tuổi. Cuộc sống, sinh hoạt 2 vợ chồng rất nhiều mâu thuẫn, hay xảy ra cãi vã, đánh nhau. Tôi đã từng bỏ nhà đi 1 tháng sau đó cô ấy hối hận và mong tôi quay về. Tôi đang sống trên đất nhà vợ nên cô ấy càng được thể, nhiều lúc không tôn trọng tôi và gia đình nhà chồng. Mấy hôm trước xảy ra chuyện to tiếng và đánh nhau, tôi một lần nữa hạ quyết tâm ra đi. Thực sự giữa chúng tôi ko còn tình cảm vợ chồng. Tôi rất lo cho con nhưng ko thể sống chung được với người vợ với bản tính ích kỷ và không biết trên dưới như vậy được nữa. Mong luật sư tư vấn giúp tôi cách ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con. Tôi ko cần gì tài sản chung hết, chỉ cần được quyền nuôi 1 trong 2 con thôi.

Xin cảm ơn luật sư.

Người gửi: Nam

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

-) Thứ nhất: Bạn và vợ không thể thỏa thuận được với nhau về việc ly hôn, hay vợ bạn không đồng ý giải quyết ly hôn trường hợp này bạn bị hạn chế quyền ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo quy định của pháp luật như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Luật hôn nhân và gia đình 2014 )

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

-) Thứ hai

Bạn tiến hành giải quyết ly hôn thuận tình khi cả hai vợ chồng cùng thỏa thuận được với nhau về vấn đề này.

* Hồ sơ xin ly hôn thuận tình:

+ Đơn yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (theo mẫu/mẫucủaTòa án);
+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
+ Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân của vợ/chồng (bản sao chứng thực);
+ Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực);
+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực).

* Thẩm quyền giải quyết

Sau đó bạn nộp lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai vợ chồng bạn để được giải quyết. Cụ thể thì thẩm quyền giải quyết được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Bộ luât tố tụng dân sự sửa đổ bổ sung 2011) như sau:

h) Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”

Tuy nhiên, vì đối tượng được quy định chỉ là người chồng chứ không quy định người vợ cho nên người vợ vẫn có quyền yêu cầu ly hôn thuận tình hoặc đơn phương ( vì thời gian này cần sự quan tâm chăm sóc nhiều của người chồng đối với vợ và con nên người vợ ít có khả năng nuôi con một mình, đây là giai đoạn cần sự giúp đỡ của người chồng nhất). Hoặc bạn có thể giải quyết ly hôn đơn phương khi con trên 12 tháng tuổi.

*Thời hạn giải quyết:

Về thời hạn giải quyết việc ly hôn được quy định như sau:

Căn cứ (Điều 171 BLTTDS, điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTDS) thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 4 tháng kể từ ngày thụ lý, nếu vụ án phức tạp thì có thể gia hạn thêm 2 tháng nữa (nghĩa là 6 tháng) (quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTDS).

-) Thứ ba: Về vấn đề con chung

Bạn và vợ không thỏa thuận được với nhau về con chung, bạn có thê yêu cầu tòa án giải quyết. Tòa án sẽ dựa trên những nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gia đình như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

+) Con dưới 5 tháng tuổi do mẹ trực tiếp nuôi nếu như không có thỏa thuận gì khác

+) Con hơn 3 tuổi tòa sẽ căn cứ vào những điều kiện của bố mẹ và đánh giá khả năng nuôi dưỡng chăm sóc con, ai đủ điều kiện tốt hơn sẽ là người trực tiếp nuôi cháu. Do những thông tin bạn cung cấp chưa đủ để khẳng định bạn có thể nuôi cháu lớn hay không. Bạn có thể tham khảo vào những yếu tố sau và điều kiện hiện tại của bản thân :

Các điều kiện cho sự phát triển về thể chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên dành cho con, yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;
Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn… của cha mẹ.

-> Đảm bảo được những điều kiện trên thì bạn có khả năng được tòa án quyết định quyền trực tiếp nuôi con.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê