Thưa luật sư công ty Luật Minh Khuê. Theo tôi được biết quyền sống là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận tại Hiến pháp nước Việt Nam. Xin luật sư cho hỏi quyền sống là gì? Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về quyền sống?

Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoàng Ngát - Bình Dương

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Tuyên ngôn Toàn thế giới về nhân quyền năm 1948

- Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR)

- Hiến pháp năm 2013

2. Quyền sống là gì?

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Và Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia.

"Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”

3. Quyền sống trong pháp luật quốc tế

3.1. Khái quát pháp luật quốc tế về quyền sống

Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế. Cụ thể, Điều 3 Tuyên ngôn Toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rằng: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”. Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện” (Khoản 1).

Bên cạnh ICCPR, một số công ước quốc tế khác về quyền con người cũng đề cập đến quyền sống, trong đó bao gồm Công ước về quyền trẻ em, Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, Công ước về trấn áp và trừng trị tội ác a-pác-thai....

Đặc điểm, tính chất và nội hàm của quyền sống đã được Ủy ban Nhân quyền (Human Rights Committee - HRC - cơ quan được lập ra theo ICCPR để giám sát việc thực hiện công ước này của các quốc gia thành viên) đề cập trong Bình luận chung số 6 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982), có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:

- Quyền sống là "một quyền tối cao (supreme right) của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị tạm đình chỉ (derogation) việc thực hiện...” (đoạn 1).

- Quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà hơn thế, quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh... (đoạn 2), tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ động để bảo đảm cuộc sống của người dân, đặc biệt là của những cá nhân và nhóm yếu thế.

- Một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các tội phạm nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại. Vì vậy, việc chống chiến tranh và các tội phạm này cũng là sự bảo đảm quyền sống. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống trong Điều 6 có mối liên hệ với nghĩa vụ cấm các hoạt động tuyên truyền chiến tranh và kích động hận thù, bạo lực nêu ở Điều 20 ICCPR (đoạn 3).

- Phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại hoặc tước đoạt tính mạng con người là biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền sống. Các quốc gia thành viên cần tiến hành các biện pháp phòng chống và trừng trị việc tuỳ tiện tước đoạt tính mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các cơ quan và viên chức nhà nước (đoạn 5). Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc người và đưa đi mất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước đoạt quyền sống, do đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra những biện pháp và kế hoạch hiệu quả để phòng chống và điều tra các vụ việc dạng này (đoạn 4).

Cũng liên quan đến quyền sống, ngoài Bình luận chung số 6, HRC còn thông qua Bình luận chung số 14 (phiên họp lần thứ 23 năm 1984) trong đó tái khẳng định tầm quan trọng của quyền sống, coi đó là cơ sở cho tất cả các quyền con người, đồng thời nhắc lại yêu cầu phải thực hiện Điều 6 của ICCPR trong mọi hoàn cảnh. Văn bản này nhấn mạnh rằng chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân, là nguy cơ lớn nhất đe dọa quyền sống và yêu cầu các quốc gia hạn chế và chấm dứt các cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là không thiết kế, thử nghiệm, chế tạo, tàng trữ, triển khai và sử dụng các loại vũ khí hạt nhân - những hành vi mà theo HRC cần bị coi là phạm tội ác chống nhân loại.

Những diễn giải nêu trên đã làm rõ một số khía cạnh pháp lý trong nội hàm của quyền sống. Mặc dù vậy, do quyền sống là một khái niệm rất rộng và phức tạp nên vẫn còn nhiều khía cạnh cụ thể khác liên quan đến các vấn đề như tử hình, nạo phá thai, an tử, giết người trong tình huống để tự vệ và trong chiến tranh còn đang được tranh cãi.

3.2. Chủ thể của quyền sống

Có quan điểm cho rằng quyền sống cần phải áp dụng cho cả con người và loài vật. Tuy nhiên, từ góc độ luật nhân quyền quốc tế, có thể thấy quyền sống chỉ áp dụng cho con người mà không mở rộng đến các loài vật khác. Điều này thể hiện rõ qua việc sử dụng các đại từ nhân xưng là everyone trong Điều 3 UDHR, every human being trong Điều 6 ICCPR mà đều có nghĩa là mọi người.

Có quan điểm cho rằng quyền sống có thể áp dụng với các pháp nhân. Tuy nhiên, trong những phán quyết có liên quan, Tòa án nhân quyền châu Âu đã khẳng định rằng quyền sống chỉ áp dụng cho các thể nhân. Pháp nhân (cùng với thể nhân) có thể được hưởng một số quyền con người như quyền sở hữu tài sản, quyền được tố tụng công bằng, quyền tự do biểu đạt, quyền tự do lập hội… nhưng không bao gồm quyền sống.

Có quan điểm cho rằng quyền sống áp dụng với cả các bào thai còn nằm trong bụng mẹ. Tuy nhiên, trong phán quyết về vụ X kiện Vương quốc Anh năm 1980, Tòa án Nhân quyền châu Âu cho rằng quyền sống về nguyên tắc không áp dụng với các bào thai người. Phán quyết này cũng có nghĩa là việc phá thai về mặt pháp lý không phải là sự vi phạm quyền sống. Mặc dù vậy, cần thấy là Công ước về quyền trẻ em (CRC) năm 1989 có quy định: ‘Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” (Lời nói đầu). Như vậy, các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ sự sống của trẻ em từ khi còn là bào thai, song sự bảo vệ đó không đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền sống của một tự nhiên nhân, mà thông thường thể hiện chủ yếu qua các chính sách chăm sóc sức khỏe của bà mẹ.

Một vấn đề nữa đặt ra đó là liệu quyền sống có thể áp dụng với người nước ngoài? Về câu hỏi này, như đã đề cập, chủ thể của quyền sống theo luật nhân quyền quốc tế là tất cả mọi người (everyone, every human being).Đại từ nhân xưng này cho thấy quyền sống không phải là đặc quyền dành riêng cho công dân của các quốc gia như các quyền bầu cử, ứng cử… mà còn là quyền của tất cả các cá nhân khác (công dân nước ngoài, người không quốc tịch, người tị nạn, người tìm kiếm cơ hội tỵ nạn...) hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia. Vấn đề này cũng được quy định trong nhiều công ước quốc tế khác về nhân quyền, cụ thể như Công ước về vị thế của người tị nạn, Công ước về bảo vệ quyền của người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ, Công ước về quyền của người không quốc tịch…

3.3. Bản chất của quyền

Bản chất của quyền sống liên quan đến câu hỏi là phải chăng các nhà nước không được tước đi tính mạng của cá nhân trong mọi hoàn cảnh?

Về vấn đề này, cần khẳng định rằng xuất phát từ những quy định của luật nhân quyền quốc tế, quyền sống tuy là tối cao (supreme right) và luôn phải được áp dụng kể cả trong trường hợp khẩn cấp của quốc gia (không được tạm đình chỉ thực hiện - Bình luận chung số 6 của HRC, đã nêu ở trên) nhưng không phải là quyền tuyệt đối (absolute right - tức là quyền không thể bị tước đoạt trong mọi hoàn cảnh). Việc ICCPR (Điều 6) vẫn quy định hình phạt tử hình là minh chứng rõ ràng cho điều đó, bởi hình phạt tử hình về bản chất là sự tước đi quyền sống của một cá nhân, nhưng chỉ khi được áp dụng một cách tùy tiện (arbitrarily) thì mới bị coi là vi phạm luật nhân quyền quốc tế. Nghị định thư thứ nhất bổ sung ICCPR về xoá bỏ hình phạt tử hình (1989), tuy được cổ vũ mạnh mẽ bởi Liên hợp quốc, song không phải là bắt buộc, mà chỉ là tùy chọn (optional) với các quốc gia thành viên. Nói cách khác, luật nhân quyền quốc tế không cấm các quốc gia sử dụng án tử hình như là một hình phạt để ngăn ngừa và trừng trị tội phạm, nhưng khuyến khích hạn chế và bãi bỏ hình phạt khắc nghiệt đó.

3.4. Bảo đảm quyền sống trong xung đột vũ trang

Liệu việc giết người trong bối cảnh chiến tranh/xung đột vũ trang có phải là sự vi phạm quyền sống? Về vấn đề này, hành vi giết người trong bối cảnh chiến tranh/xung đột vũ trang hiện được điều chỉnh bởi cả hai ngành luật nhân quyền và luật nhân đạo quốc tế. Theo quan điểm chung hiện nay, nếu hành vi này diễn ra giữa các lực lượng vũ trang của các bên tham chiến mà tuân thủ đúng các quy định của luật nhân đạo quốc tế (cấm tấn công vào thường dân và các mục tiêu dân sự, cấm sát hại binh lính đối phương khi họ đã đầu hàng hoặc không còn khả năng chống cự…) hay nói cách khác, việc giết người khi thực hiện các hành vi chiến tranh hợp pháp (deaths resulting from lawful acts of war) thì không bị coi là vi phạm quyền sống được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế.

3.5. Quyền sống trong trường hợp tự vệ, trấn áp tội phạm

Luật nhân quyền quốc tế có những quy định rất cụ thể, chi tiết về giới hạn trong hành động của các cán bộ thực thi pháp luật nhằm ngăn ngừa sự tuỳ tiện vi phạm các quyền con người, trong đó có quyền sống. Mặc dù vậy, theo tinh thần của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật hình sự của các quốc gia, việc làm chết người trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng vũ lực để bảo vệ tính mạng của bản thân và/hoặc của những người khác mà đang bị người bị giết đe dọa sẽ không bị coi là vi phạm quyền sống, nếu như hành động sử dụng vũ lực đó là hợp pháp, cần thiết và tương xứng với sự đe dọa. Ngoài ra, hành động sử dụng vũ lực gây chết người trong các vụ bắt giữ, trấn áp tội phạm hoặc các vụ nổi loạn, nếu như hợp pháp và hợp lý, thì cũng không bị coi là sự vi phạm quyền sống.

3.6. An tử

An tử (euthanasia, hay còn được gọi là quyền được chết êm ả) là khái niệm chỉ hành động trợ giúp một người mắc bệnh nan y không có khả năng chữa trị được giải thoát khỏi tình trạng sống trong đau đớn kéo dài và vô vọng. Khái niệm và những hành động an tử xuất hiện từ thế kỷ thứ XVII nhưng cho đến nay vẫn gây rất nhiều tranh cãi, xuất phát từ tính chất phức tạp trong việc xác định ý chí của người bệnh và ý định của người trợ giúp.

Từ góc độ quyền sống, an tử thực chất là việc tự nguyện từ bỏ cuộc sống, từ bỏ quyền sống với sự hỗ trợ của người khác (thông thường là bác sĩ). Có hai cách thức trợ tử chủ yếu, đó là: Tiêm thuốc có tác dụng chấm dứt sự sống cho bệnh nhân nan y và ngưng việc điều trị duy trì sự sống của bệnh nhân (rút ống dẫn, tắt các thiết bị y tế…). Hai trường hợp này có sự hỗ trợ trực tiếp của người khác. Ngoài ra, có trường hợp người bệnh tự kết thúc cuộc sống của mình với sự tư vấn của người khác, ví dụ, tự tiêm loại thuốc cần thiết, tự rút ống dẫn hay tắt các thiết bị y tế… Tuy nhiên, trong trường hợp nào thì câu hỏi về việc vi phạm quyền sống chỉ đặt ra với những người hỗ trợ, bởi hành vi tự sát không bị coi là có tội, xét từ phương diện tội phạm học.

Cũng như nhiều khía cạnh phức tạp khác của quyền sống, luật nhân quyền quốc tế chưa đề cập cụ thể đến các vấn đề an tử. Song ở cấp châu lục, Nghị viện của Hội đồng châu Âu, trong một khuyến nghị đưa ra vào năm 1999, đã nêu rằng, các quốc gia thành viên cần: “Bảo đảm rằng, trừ khi người bệnh tự lựa chọn, tất cả những người bệnh nan y hoặc sắp chết đều phải được hưởng các biện pháp chăm sóc để làm giảm sự đau đớn, kể cả khi các biện pháp đó có thể gây ra tác dụng phụ là làm giảm thời gian sống của họ”. Khuyến nghị này hàm ý rằng việc hỗ trợ ngưng các thiết bị điều trị duy trì sự sống của bệnh nhân theo ý nguyện của người đó sẽ không bị coi là vi phạm quyền sống. Mặc dù vậy, nếu việc này được thực hiện với những bệnh nhân không có khả năng thể hiện ý chí của mình (ví dụ, sống thực vật) thì sẽ bị coi là vi phạm quyền sống.

Tuy nhiên, “quyền được chết” không phải được coi là được chấp nhận với mọi người, vì thế có thể gây ra những hậu quả khác nhau với những đối tượng liên quan trong những bối cảnh khác nhau. Ví dụ, trong phán quyết về vụ X kiện CHLB Đức năm 1977, Tòa án nhân quyền châu Âu đã cho rằng nguyên đơn (là một tù nhân) trong bối cảnh sức khỏe bình thường, không thể viện dẫn mình có quyền được chết để tuyệt thực tự sát, và việc quản giáo bắt buộc anh ta phải ăn để duy trì sự sống không bị coi là vi phạm quyền được chết, cũng như không bị coi là đã có hành động đối xử tàn bạo, vô nhân đạo với người này. Tương tự, trong vụ Keenan kiện Vương quốc Anh vào năm 2001, Tòa đã phán rằng quản giáo có nghĩa vụ ngăn cản nguyên đơn (cũng là một tù nhân nhưng có tiền sự bị tâm thần) tự sát trong tù.

4. Quyền sống trong pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền sống đã được đề cập trong những đạo luật của các triều đại phong kiến, tiêu biểu như Quốc triều Hình Luật (Hậu Lê), Bộ luật Gia Long (Nguyễn)… thông qua những quy định nhằm ngăn ngừa và trừng trị những hành vi tuỳ tiện tước bỏ tính mạng của con người.

Trong thời hiện đại, quyền sống theo nghĩa rộng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, thông qua việc nhắc lại tuyên bố về quyền này trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".Sau đó, các văn bản pháp luật chuyên ngành, đặc biệt là các văn bản pháp luật hình sự, đã có những quy định về bảo vệ tính mạng của con người khỏi bị xâm hại một cách trái pháp luật.

Tuy nhiên, trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và trong các đạo luật chuyên ngành trước đây, quyền sống không được đề cập như một quyền cụ thể, mà chỉ được thể hiện thông qua các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Chỉ đến Hiến pháp năm 2013, quyền này mới được nêu trực tiếp trong Điều 19 và được gắn với sự bảo hộ pháp lý về tính mạng: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.

Việt Nam cũng đã tham gia cả hai Công ước quốc tế cơ bản về nhân quyền năm 1966 (ICCPR, ICESCR) và một số điều ước quốc tế khác về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như Công ước về quyền trẻ em 1989, Công ước về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979… Việt Nam cũng đã ký và dự định sớm phê chuẩn Công ước về quyền của những người khuyết tật 2006. Đây là những cơ sở pháp lý quốc tế để thúc đẩy các quyền của những nhóm yếu thế, bao gồm quyền sống, ở Việt Nam.

Ngoài quy định nêu trên của Hiến pháp năm 2013, quyền sống hiện còn được bảo vệ qua một số điều khoản khác của Hiến pháp năm 2013 và trong một số đạo luật chuyên ngành, ví dụ như Bộ Luật Hình sự, Bộ luật dân sự… Xét một cách khái quát, Việt Nam đã có một khuôn khổ pháp luật khá hoàn chỉnh để bảo đảm quyền của những nhóm yếu thế, bao gồm quyền sống của họ theo nghĩa rộng, tức là quyền được bảo đảm các điều kiện để tồn tại. Ví dụ, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được thông qua từ năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004) đã quy định các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó bao gồm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 12). Luật cũng dành hẳn chương IV (Điều 40-58) quy định về việc bảo vệ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. (Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma túy; trẻ em vi phạm pháp luật) mà có ý nghĩa quan trọng với việc bảo đảm sự sống còn và phát triển của những trẻ em này.

Liên quan đến vấn đề an tử, quyền được chết êm ả chưa từng được quy định trong các Hiến pháp cũng như pháp luật của Việt Nam (đặc biệt là Bộ luật Dân sự). Nói cách khác, trong pháp luật Việt Nam, quyền này chưa được coi là quyền nhân thân của con người. Tuy nhiên, quyền được chết êm ả đã được đưa ra thảo luận Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ 6 và 7, các năm 2004, 2005) khi bàn về dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy pháp luật Việt Nam đã tương thích với những nguyên tắc quốc tế cơ bản về quyền sống. Mặc dù vậy, vẫn còn một số khía cạnh cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp hơn với pháp luật quốc tế và xu hướng chung trên thế giới, trong đó có vấn đề hình phạt tử hình.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập