- Căn cứ pháp lý:
- 1. Quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Toà án
- 2. Thẩm quyển theo vụ việc của Toà án đối với tranh chấp kinh doanh
- 3. Thẩm quyền của Toà án các cấp của Toà án đối với tranh chấp kinh doanh
- 4. Thẩm quyển theo lãnh thổ của Toà án đối với tranh chấp kinh doanh
- 5. Quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp đối với tranh chấp kinh doanh
- 6. Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp tại Toà án
Căn cứ pháp lý:
- Bộ luật Dân sự 2015;
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
1. Quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Toà án
Bộ luật tố tụng dân sự quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 185). Tuy nhiên, một điều kiện quan trọng để Toà án thụ lý vụ án là đơn kiện phải được nộp đúng thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn do pháp luật quy định để chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và được hướng dẫn cách tính tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật TTDS năm 2015. Một nguyên tắc chung mà Bộ luật TTDS quy định là trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm.
Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật thì đơn khởi kiện phải nêu rõ những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp và các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án.
Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp (Điều 189). Người khởi kiện vụ án có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng cách nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi đến Toà án qua bưu điện. Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi (Điều 190).
2. Thẩm quyển theo vụ việc của Toà án đối với tranh chấp kinh doanh
Thẩm quyền theo vụ việc là phạm vi các tranh chấp được pháp luật quy định thuộc quyền hạn giải quyết của Toà án nhân dân. Theo quy định tại Điều 30 Bộ luật TTDS thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh thoả mãn các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, đây là các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại, bao gồm: Mua bán hàng hoá; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác. Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty và các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Thứ hai, đây phải là tranh chấp từ quan hệ giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và các bên đều có mục đích lợi nhuận khi tham gia quan hệ làm phát sinh tranh chấp. Theo quy định hiện hành thì các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh gồm: công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn 10% vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ kinh doanh.
3. Thẩm quyền của Toà án các cấp của Toà án đối với tranh chấp kinh doanh
Các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại có thể được xét xử sơ thẩm ở Toà án cấp huyện hoặc Toà án cấp tỉnh.
* Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử các tranh chấp kinh doanh sau đây: Mua bán hàng hoá; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa. Tuy nhiên, đối với những tranh chấp nêu trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện (Điều 33). Việc xác định có đương sự ở nước ngoài đã được Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn gồm: đương sự là cá nhân không phân biệt là người Việt Nam hay người nước ngoài không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý vụ việc; đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam; và đương sự là cơ quan, tổ chức không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý vụ việc.
* Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp kinh doanh, thương mại, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện. Ngoài ra, Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện lên để giải quyết trong trường hợp cần thiết. Các trường hợp cần thiết mà Toà án cấp tỉnh có thể lấy những vụ việc tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện gồm: Khi vụ án có nhiều tình tiết phức tạp; Khi vụ án có nhiều đương sự ở trên địa bàn thuộc các huyện khác nhau và xa nhau; Toà án cấp huyện chưa có thẩm phán để có thể phân công giải quyết tranh chấp về kinh doanh và thương mại hoặc có thẩm phán nhưng thẩm phán đó phải thay đổi mà không có người khác để thay thế.
4. Thẩm quyển theo lãnh thổ của Toà án đối với tranh chấp kinh doanh
Thẩm quyền theo lãnh thổ là việc xác định một tranh chấp kinh doanh, thương mại cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân của địa phương nào. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ được quy định tại Điều 39 Bộ luật TTDS như sau:
+ Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp kinh doanh, thương mại.
+ Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp kinh doanh, thương mại.
+ Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.
Ngoài ra, Bộ luật TTDS cũng thừa nhận nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong các trường hợp sau đây:
+ Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
+ Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
+ Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
+ Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
+ Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
+ Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
+ Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
5. Quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp đối với tranh chấp kinh doanh
- Các đương sự trong vụ án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, bao gồm: nguyên đơn, bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
+ Nguyên đơn là người khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
+ Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật TTDS thì các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
+ Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
+ Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;
+ Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá; khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng cứ mà Toà án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu;
+ Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;
+ Đề nghị Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
+ Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;
+ Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình;
+ Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
+ Tham gia phiên toà;
+ Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;
+ Đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;
+ Tranh luận tại phiên toà;
+ Được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án;
+ Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án;
+ Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
+ Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án;
+ Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
+ Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
+ Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
+ Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
* Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung nêu trên, các đương sự cũng có thêm các quyền, nghĩa vụ sau đây:
+ Nguyên đơn còn có các quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện (Điều 71).
+ Bị đơn có các quyền chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu; Được Toà án thông báo về việc bị khởi kiện. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án giải quyết vắng mặt bị đơn (Điều 72).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định của Bộ luật này. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có các quyền, nghĩa vụ của bị đơn (Điều 73).
6. Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp tại Toà án
- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ
* Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự (Điều 93). Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; Các vật chứng; Lời khai của đương sự; Lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định; Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; Tập quán; Kết quả định giá tài sản; Các nguồn khác mà pháp luật có quy định (Điều 94).
* Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ. Khi có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Trưng cầu giám định; Quyết định định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Uỷ thác thu thập chứng cứ; Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự (Điều 97).
- Nguyên tắc hoà giải
Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải (Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội) hoặc không tiến hành hoà giải được (Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt. Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng) .
Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Toà án lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
- Nguyên tắc xét xử tập thể và công khai
* Toà án xét xử tập thể vụ án dân sự và quyết định theo đa số.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân (Điều 63).
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán
* Việc xét xử vụ án của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.
- Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) đối với các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.