1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Khảo cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng" là kỷ yếu Hội thảo khoa học cùng tên do Lâm Thị Mỹ Dung và Đặng Hồng Sơn đồng chủ biên.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Khảo cổ học biển đảo Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung và TS. Đặng Hồng Sơn (đồng chủ biên)
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
3. Tổng quan nội dung sách
Nội dung cuốn sách "Khỏa cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng được biên soạn gồm 3 phần. Cụ thể như sau:
Phần 1. Quá trình chiếm lĩnh và khai thác các vùng biển đảo Việt Nam
1. Tư liệu khảo cổ học góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa - GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc
2. Những phát hiện về di cốt người cổ trên đảo và ven bờ biển Việt Nam - PGS.TS. Nguyễn Lân Cường
3. Quá trình chiếm lĩnh và khai thác vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam thời tiền sơ sử - PGS.TS. Hán Văn Khẩn
4. Sự lan tỏa của văn hóa Phùng Nguyên ra phía biển - TS. Bùi Thị Thu Phương
5. Về yếu tố biển trong văn hóa Đồng Đậu - ThS. Bùi Hữu Tiến
6. Quá trình chiếm lĩnh vừng trũng châu thổ sông Hồng và duyên hải Bắc Bộ của cư dân văn hóa Đông Sơn - PGS.TS Bùi Văn Liêm
7. Quá trình chiếm lĩnh vùng ngập mặn Đông Nam Bộ thời tiền sơ sử - Trương Đắc Chiến
8. Về miền Trung (mấy nét khái quát về nhân học văn hóa) - GS. Trần Quốc Vượng
9. Người Quảng Ngãi ứng xử với biển - Lê Hồng Khánh
10. Gốm đất nung ở miền Tây Nam Bộ - TS. Nguyễn Thị Hoài Hương
11. Việt Nam: Giỏ hoa nhiệt đới - Trần Thị Vĩnh Tường
Phần 2. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học biển đảo Việt Nam
1. Giao thương trên Biển Đông qua tài liệu khảo cổ học tiền sơ sủ miền Trung Việt Nam - PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung
2. Nhìn lại nguồn gốc địa chất của các di vật nephrite, mica và mối quan hệ của chúng với vận chuyển đường biển ở Đông Nam Á thời tiền sử - TS. Iizuka Yoshiyuki, TS. Hung Hsiao-chun, TS. Nguyen Kim Dung
3. Một số vấn đề về khảo cổ học thương mại biển Đông Nam Á thời sơ sử: Vai trò của đồ trang sức văn hóa Sa Huỳnh - Nguyễn Thị Bích Hường
4. Hội An trong mạng lưới thương mại biển Á Châu (thế kỷ 7-13) - PGS.TS. Hoàng Anh Tuấn, Đỗ Trường Giang
5. Dự án Nishimura: Con tàu đắm cổ nhất tìm thấy ở Việt Nam - chứng cứ về tuyến đường gốm sứ trên biển - TS. Nishino Noriko, TS. Toru Aoyama, TS. Jun Kimura, TS. Takenori Nogami, TS. Lê Thị Liên
6. Đồ gốm sứ trong sáu con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam - TS. Nguyễn Đình Chiến
7. Nghiên cứu thuyền bè truyền thống ở Việt Nam - ThS. Thiều Thị Thanh Hải
8. Ngành đóng thuyền và tàu thuyền ở Đàng Trong thể kỷ 17-18 - TS. Trần Đức Anh Sơn
9. Thủy quân Việt Nam thế kỷ 17-18 và đầu 19 qua các nguồn sử liệu phương Tây - TS. Phạm Văn Thủy
10. Domea trong hệ thống thương cảng Đàng Ngoài thế kỷ 17-18 - TS. Đỗ Thị Thùy Lan
11. Những phát hiện khảo cổ học tại Quần đảo Trường Sa (Việt Nam) - PGS.TS. Lại Văn Tới
12. Điều tra khảo sát di sản biển Quảng Ninh - TS. Nguyễn Việt và cộng sự
Phần 3. Ứng dụng một số lý thuyết và phương pháp trong nghiên cứu và khai thác di sản khảo cổ học biển đảo Việt Nam
1. Tổng quan về Khảo cổ học Biển đảo: một số vấn đề về lý thuyết và phương pháp - PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung
2. Biển với lục địa: Biển Việt Nam trong các không gian biển Đông Nam Á - GS.TS. Nguyễn Văn Kim
3. Xây dựng và phát triển Khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam - TS. Lê Thị Liên, ThS. Bùi Văn Hiếu
4. Khảo cổ học Dưới nước ở Việt Nam: thành tựu, triển vọng và thách thức - TS. Lê Thị Liên
5. Khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam: thành tựu, bất cập và giải pháp - TS. Phạm Quốc Quân
6. Cù lao Ré/Lý Sơn: Những vấn đề thực tiễn và lý thuyết về nghiên cứu Khảo cổ học Biển Đảo - TS. Nguyễn Hồng Kiên
7. Thách thức về kỹ thuật khai quật khảo cổ học qua trường hợp khai quật tàu đắm Cù lao Cham (1997-1999) - PGS.TS. Tống Trung Tí
8. Tàu đắm Bình Châu 2 và những bài học về nghiên cứu, bảo tông di tích và phát huy giá trị di sản văn hóa biển đảo - TS. VŨ Quốc Hiền, Nguyễn Tuấn Lâm
9. Trưng bàu biển đảo của Bảo tàng Nhân học, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội - ThS. Phan Thị Ngọc, ThS, Đoàn Văn Luân
10. Cộng đồng học giả, ngoại giao học thuật và chuyển dịch không gian hàng hải: Trường hợp biển Đông - TS. Trương Minh Huy Vũ
11. Lược thuật tình hình phát triển Khảo cổ học dưới nước ở Trung Quốc trong 30 năm trở lại đây - TS. Đặng Hồng Sơn
4. Đánh giá bạn đọc
Các kiến thức về khảo cổ học biển đảo Việt Nam là tư liệu quý giá để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển đảo thuộc chủ quyền nước ta mà bị các bên tranh chấp. Nghiên cứu về tiềm năng và triển vọng của biển đảo Việt Nam để thấy được những giá trị lớn lao từ lịch sử cho đến hiện tại và tương lai của phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước ta, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ và quyết tâm đấu tranh chống lại sự xâm chiếm vô căn cứ của các bên.
Cuốn sách "Khảo cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng" là tập hợp bài viết của nhiều tác giả tham luận tại Hội thảo "Khỏa cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng" sẽ cung cấp tới bạn đọc nhiều thông tin, kiến thức phong phú, đa chiều về tiềm năng biển đảo nước ta. Những bài viết được tập hợp đều là những nghiên cứu đầy tâm huyết của các tác giả, cuốn sách là tài liệu quý trong tủ sách về biển đảo Việt Nam, có giá trị to lớn trong công cuộc bảo vệ và phát triển biển đảo nước ta trong tình hình hiện nay.
5. Kết luận
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc bảo vệ và phát triển kinh tế xã hội lớn mạnh.
Cuốn sách "Khảo cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng" là một trong những cuốn sách hay về đề tài biển đảo mà bạn đọc quan tâm nên lựa chọn.
Hy vọng những chia sẻ trên đây sẽ là một kênh đánh giá sách hiệu quả và tin cậy đối với bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích hãy lan tỏa đến với nhiều người hơn nhé. Để chúng tôi có thêm động lực cập nhật và giới thiệu tới bạn đọc nhiều hơn nữa những cuốn sách hay và hữu ích.
Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Khảo cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng".
Tư liệu khảo cổ học góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào?
Trích bài viết của GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc
Cơ sở pháp lý
Chủ quyền (chủ quyền lãnh thổ) là quyền lực tối cao, hoàn toàn và riêng biệt của một quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình. Chủ quyền (chủ quyền lãnh thổ) là một khái niệm cơ bản của luật pháp quốc tế trên vùng lãnh thổ đó. Khi có hai hay nhiều quốc gia đưa ra các yêu sách về chủ quyền trên một vùng lãnh thổ cụ thể thì người ta cần xem xét quốc gia nào đã xác lập được một danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế. Trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ, phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu, tức là hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên lãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của một quốc gia nào. Điều cần phải nhấn mạnh ở đây là việc chiếm cứ một lãnh thổ vô chủ chỉ được luật pháp quốc tế thừa nhận một khi nó là hành động chính thức nhân danh quốc gia hay được quốc gia ủy quyền, mà tuyệt đối không thể là hành động của cá nhân hoặc của công ty tư nhân, không có hay không được một quốc gia hoặc một nhà nước nào ủy quyền. Luật pháp quốc tế quy định rất cụ thể quyền phát hiện cũng như chiếm hữu đòi hỏi đồng thời phải có hai điều kiện là yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần và cả hai yếu tố này phải kết quyện với nhau và đều phải được thực hiện bởi nhà nước hay các cơ quan đại diện của nhà nước.
Chủ quyền sơ khai
Việt Nam nằm ở phía Đông của bán đảo Đông Dương, có địa thế tựa lưng vào núi, ngoảnh mặt ra Biển Đông, với bờ biển dài 3260km. Biển Đông là không gian sinh tồn, là cánh cửa mở ra với thế giới của Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử.
Không gian biển đảo Đông Bắc là nơi sản sinh nền văn hóa Hạ Long nổi tiếng có niên đại khoản 4.00-3.000 năm BO. Văn hóa Hạ Long là một dòng văn hóa bản địa góp phần tạo thành nền văn hóa Đông Sơn và tô đạm thêm yếu tố biển trong nền văn minh đầu tiên của người Việt. Đây cũng đồng thời là địa àn căn bản của nước Văn Lang, Âu Lạc.
Ở khu vực miền Trung, trên dải dất núi ăn ra sát biển, sông ngắn và dốc, đồng bằng nhỏ và hẹp thật khó có thể bảo tồn được sự sống lâu dài nếu con người hoàn toàn chỉ đánh cược vào nghề nông. Để tồn tại và phát triển, từ cư dân Tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh đến cư dân Chămpa không còn con đường nào khác là phải tiến ra biển, tìm ở biển một con đường sống mới. Thông qua các hoạt động mưu sinh, từ vùng biển gần đến các vùng Hoàng Sa, Trường Sa, người Sa Huỳnh, Chămpa trở thành chủ nhân thực sự của biển khơi.
Nam Bộ là một vùng đất cổ, có lịch sử văn hóa lâu đời và gắn bó hữu cơ với môi trường sông biển. Khai thác triệt để lợi thế của một vương quốc năm ở vị trí hội tụ của con đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, lại có hệ thống cảng thị thuận lợi và nguồn hàng dồi dào, Phù Nam ngay từ khi mới thành lập đã là một vương quốc biển, triệt để khai thác biển tạo thành thế mạnh căn bản của vương quốc. Cư dân Nam Bộ suốt trong quá trình hình thành và phát triển luôn là cộng đồng cư dân có truyền thống khai thác biển mạnh trong khu vực.
Các vương quốc cổ thời đại dựng nước đầu tiên đều có chung dải Biển Đông, đều tự nhận nguồn gốc biển của mình và trong thực tế biển đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thặm chí quyết định cả sự hưng thịnh hay suy tàn của mỗi vương quốc. Lịch sử Việt Nam do được tích hợp từ ba dòng như thế, tuy mỗi khu vực vẫn bảo tồn những truyền thống riêng, những cũng sớm định hình một xu thế thống nhất của một dòng chảy chủ đạo, trong đó năng lực khai chiếm các vùng biển đảo trở thành thước đo sức mạnh và vị thể của một vương triều hay một thời đại.
Các nhà nước Ngô, Đinh, Tiền Lê dưới các hình thức khác nhau, đều đã có sự quan tâm đặc biệt đến biển. Đến thời Lý, nhất là ào thời Lý Anh Tông, nhà vua đã có cả một chiến lược tương đối đầy đủ và hệ thống đối với các vùng biển đảo. Bước sang thời Trần, công việc tổ chức khai thác, quản lý và phòng thủ biển đảo càng ngày càng đi vào quy củ, làm nên cho kỳ tích anh hùng va lần đánh bại đế chế Mông Nguyên hùng mạng và tàn bạo nhất thế giới đương thời. Dưới thời Lê, đặc biệt là thời Lê Thánh Tông cuối thể kỷ 15, Biển ĐÔng trở thành con đường chủ đạo mở mang quốc gia Đại Việt. Vùng duyên hải phía nam được kéo dài đến đại đầu Phan Rang và mở rộng ra Bãi Cát Vàng, vừa khẳng định sự tiếp nối truyền thống khai thác biển đảo của các vương triều Chămpa trước, vừa thể hiện ý chí muốn vươn ra khai chiếm toàn bộ vùng biển đảo quan yếu này.
Từ năm 1993 đến năm 1999, Viện khảo cổ học thuộc Trung tâm KHXH&NV Quốc gia đã nhiều lần tiến hành điều tra và hai lần khai quật trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Kết quả khai quật khảo cổ học ở bốn đảo Trường Sa lớn, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca và điều tra, thám sát trên sáu đảo khác đã phát hiện các di tích, di vật thuộc thời đại sắt sớm (tương đương với văn hóa Sa Huỳnh muộn - Chămpa sớm) ở ven biển miền Trung Việt Nam. Đoàn công tác còn tìm thấy trên các đảo này các mảnh gốm sứ từ thế kỷ 13-14 cho đến những thế kỷ gần đây.
Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để có thể khẳng định trên các đảo thuộc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã có dấu tích con người Việt Nam từ thời tiền sử cho đến thời dựng nước và thời hiện đại liên tục qua lại, làm ăn và cư trú. Đây chỉ mới là hình ảnh ban đầu của chủ quyền sơ khai, nhưng không thể không là cơ sở vững chắc cho toàn bộ quá trình lịch sử chủ quyền đầy fđủ của Việt Nam theo đúng các quy định chặt chẽ của luật pháp quốc tế ở giai đoạn cận kề.
.... Mời bạn đọc đầy đủ nội dung tại cuốn sách "Khảo cổ học biển đảo Việt Nam - Tiềm năng và triển vọng"