1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng ở Việt Nam" do PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh và TS. Nguyễn Tiến Vinh chủ biên.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng ở Việt Nam

Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng ở Việt Nam

Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh và TS. Nguyễn Tiến Vinh chủ biên

Nhà xuất bản Hồng Đức

3. Tổng quan nội dung sách

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, hàng giả là:

a) Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

c) Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016;

d) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;

đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;

e) Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.

Vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đã và đang diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp. Trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực trong việc cải cách, hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, hiện tượng sản xuất, lưu thông và buôn bán hàng giả vẫn chưa được kiểm soát và tiếp tục gia tăng.

Cuốn sách “Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng ở Việt Nam” của tập thể tác giả Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh và TS. Nguyễn Tiến Vinh chủ biên là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về pháp luật chống hàng giả tại Việt Nam, được phát triển trên cơ sở đề tài “Pháp luật về chống hàng giả gây hại cho sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện”.

Cuốn sách được biên soạn gồm 6 chương như sau:

Chương 1: Hàng giả gây hại cho sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng: khái quát chung về hàng giả và hàng giả gây hại cho sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng (khái niệm, phân biệt hàng giả về nội dung và hình thức, đặc thù của nhóm hàng giả gây hại,...); thực trạng sản xuất, nhập khẩu, buôn bán hàng giả trong nước, khu vực và quốc tế.

Chương 2: Pháp luật chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng: trình bày các đặc thù của pháp luật chống hàng giả như: tính phòng ngừa, nghiêm khắc, tích hợp nhiều lĩnh vực pháp luật; sự cần thiết phải xây dựng chính sách, cơ chế pháp luật chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng.

Chương 3: Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài trong chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng: tổng quan kinh nghiệm chống hàng giả trên thế giới; phân tích một số hệ thống pháp luật điển hình về chống hàng giả của Hoa Kỳ, liên minh châu Âu, Trung Quốc.

Chương 4: Hợp tác quốc tế trong chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng: mối quan hệ với các tổ chức quốc tế trong công tác chống hàng giả bao gồm: Hải quan, Y tế thế giới, cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc, tổ chức cảnh sát quốc tế Interpol, tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO;... các thỏa thuận quốc tế về chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng.

Chương 5: Pháp luật Việt Nam về chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng: lịch sử hình thành và phát triển, hiện trạng nội dung  pháp luật Việt Nam về chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng; vấn đề áp dụng pháp luật ở nước ta qua một số vụ việc tiêu biểu.

Chương 6: Hoàn thiện và tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng: quan điểm của Đảng, Nhà nước; vấn đề hoàn thiện và tăng cường hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng.

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách "Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng ở Việt Nam" được biên soạn giới thiệu tới bạn đọc khá toàn diện từ lý luận đến thực tiễn pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật chống hàng giả, có sự liên hệ tới pháp luật quốc tế, một số quốc gia để soi chiếu thực trạng pháp luật của Việt Nam và từ đó đưa ra đề xuất hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về chống hàng giả gây hại cho người tiêu dùng.

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn đọc là những người học và nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật chất lượng hàng hóa, phòng chống hàng giả, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và những người làm công tác quản lý chất lượng hàng hóa, người làm công tác tư vấn pháp lý.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Pháp luật chống hàng giả gây hại sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng ở Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số quy định xử phạt hành chính hành vi vi phạm quy định về phòng chống hàng giả theo quy định tại Nghị định 98/2020/NĐ-CP để bạn đọc tham khảo:

Điều 9. Hành vi buôn bán hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng

1. Đối với hành vi buôn bán hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng quy định tại điểm a, b, c và d khoản 7 Điều 3 của Nghị định này, mức phạt tiền như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá dưới 3.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp dưới 5.000.000 đồng;

b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng;

c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng;

d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;

đ) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 50.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt quy định tại khoản 1 Điều này đối với hành vi nhập khẩu hàng giả hoặc hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Là thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc, nguyên liệu làm thuốc mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Là thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi;

c) Là mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, chất tẩy rửa, hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, xi măng, sắt thép xây dựng, mũ bảo hiểm.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 4 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 1 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc tiêu hủy tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản này;

b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng giả đối với hành vi nhập khẩu hàng giả quy định tại Điều này;

c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

Điều 10. Hành vi sản xuất hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng

1. Đối với hành vi sản xuất hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng quy định tại điểm a, b, c và d khoản 7 Điều 3 Nghị định này, mức phạt tiền như sau:

a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá dưới 3.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp dưới 5.000.000 đồng;

b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng;

c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng;

d) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;

đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 50.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt quy định tại khoản 1 Điều này đối với một trong các trường hợp hàng giả sau đây:

a) Là thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc, nguyên liệu làm thuốc mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Là thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi;

c) Là mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, chất tẩy rửa, hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, xi măng, sắt thép xây dựng, mũ bảo hiểm.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 4 Điều này;

b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc được sử dụng để sản xuất hàng giả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động sản xuất vi phạm từ 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 1 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc tiêu hủy tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.