1. Khái quát chung

Hợp đồng truyền thống là những hợp đồng được ký kết theo những phương thức truyền thống như các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán và giao kết hợp đồng trực tiếp bằng văn bản, thậm chí bằng hành vi cụ thể hoặc giao kết hợp đồng thông qua trao đổi thư từ, tài liệu giao dịch bằng đường bưu điện. Còn hợp đồng điện tử là hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử.
Về mặt pháp lý, hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp đồng được thiết lập dựa trên các quy định chung của Bộ luật Dân sự. Vì vậy chúng có những điểm giống nhau và cũng có những điểm khác nhau.

2. Sự giống nhau

Thương mại điện tử không làm thay đổi khái niệm thương mại truyền thống. thương mại điện tử là một hình thức kinh doanh mới, kinh doanh qua một phương tiện, một cách thức mới trên cơ sở áp dụng các công nghệ hiện đại. Vì vậy hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống có những điểm giống nhau cơ bản.

2.1 Điểm giống nhau thứ nhất

chúng đều là hợp đồng, mà hợp đồng được hiểu là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, dù là hợp đồng được giao kết bằng lời nói, bằng hành vi, bằng văn bản hay các phương tiện điện tử thì điều quan trọng là hợp đồng chỉ hình thành nếu các bên giao kết đạt được sự thỏa thuận, sự thỏa thuận cụ thể, rõ ràng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Sự tự do và thống nhất ý chí giữa các bên đương sự là điều quan trọng nhất làm nên hợp đồng, dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử.

2.2 Điểm giống nhau thứ hai

Cả hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống, khi giao kết và thực hiện chúng đều phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định và tuân thủ những quy định liên quan đến hình thức của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, quy trình giao kết hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh, nếu có.

2.3 Điểm giống nhau thứ ba

Khi giao kết hợp đồng dù là hợp đồng điện tử hay hay hợp đồng truyền thống, các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ nguyên tắc giao kết hợp đồng đó là “ tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” và nguyên tắc “ thiện trí, trung thực”. Hai nguyên tắc này được quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015. Hai nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng, dù đó là hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống, là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại.

2.4 Điểm giống nhau thứ tư

Là cả hai hợp đồng này đều phải tuân theo những quy định có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng. Trước hết khi thực hiện hợp đồng, dù là hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống, các bên trong hợp đồng phải tuân theo ba nguyên tắc thực hiện hợp đồng: Nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng: đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác; Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và các bên cùng có lợi, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; và nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

3. Sự khác nhau

Bên cạnh nhưng điểm giống nhau cơ bản như trên, hợp đồng điên tử và hợp đồng truyền thống cũng có nhiều điểm khác nhau. Được giao kết qua việc sử dụng các phương tiện điện tử hiện đại, với tính chất phi biên giới hợp đồng điện tử có rất nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống. Nhiều quy định được áp dụng đối với hợp đồng truyền thống trở nên không phù hợp với hợp đồng điện tử (như quy định về hình thức viết, chữ ký tay…). Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện các hợp đồng điện tử mẫu. Những hợp đồng điện tử mẫu này khẳng định một lần nữa là, về mặt nội dung cũng như về mặt pháp lý, hợp đồng điện tử có những điểm khác biệt so với hợp đồng thông thường. Những điểm khác biệt đó là:

3.2 Về chủ thể

Các chủ thể tham gia vào việc giao kết hợp đồng điện tử: Trong giao dịch điện tử ngoài các chủ thể tham gia giao kết như đối với thương mại truyền thống (người bán, người mua) đã xuất hiện các bên thứ ba có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng điện tử. Đó là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và chứng thực chữ ký điện tử. Những bên thứ ba này có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng có thể đóng vai trò trong việc xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử.
Với đặc thù đuộc giao kết dươi dạng phi giấy tờ, việc giao kết hợp đồng điện tử sẽ gặp rủi ro nếu không có các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ qua chứng thực chữ ký điện tử. Các nhà cung cấp dịch vụ mạng có trách nhiêm duy trì hệ thống mạng (mạng nội bộ của doanh nghiệp cũng như mạng quốc gia) luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt. Hệ thống mạng trục trặc ngay lập tức sẽ ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng điện tử ở phạm vi từng đơn vị, doanh nghiệp … cũng như ở phạm vi quốc gia. Còn cơ quan chứng thực chữ ký điện tử đóng vai trò quang trọng trong việc xây dựng và tạo được một cơ chế sao cho các hợp đồng điện tử không thể bị giả mạo và không thể bị phủ nhận khi tranh chấp phát sinh.
Chính vì vậy đối với hợp đồng điện tử, chừng nào hệ thống mạng có trục trặc chừng nào các cơ quan chứng thực chữ ký chưa được thành lập, thậm chí được thành lập nhưng chưa hoạt động thì chừng đó, việc giao kết hợp đồng điện tử cũng như việc thực hiện hợp đồng điện tử sẽ khó có thể thành công. Rủi ro sẽ là rất lớn nếu không có những người thứ ba này tham gia vào quy trình giao kết hợp đồng điện tử.
Những người thứ ba này không tham gia vào quy trình đàm phán, giao kết hay thực hiện hợp đồng. Họ chỉ tham gia với tư cách là các cơ quan hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử.
Địa vị pháp lý của họ với tư cách là chủ thể tham gia vào một khâu, hoặc  một số khâu của quá trình giao kết hợp đồng điện tử cần phải được quy định như thế nào? Đây là điểm làm nên sự khác biệt của giao kết hợp đồng điện tử.

3.3 Về nội dung

Hợp đồng điện tử có một số điển khác biệt so với hợp đồng truyền thống. Những điểm khác biệt đó là:
+ Địa chỉ pháp lý: ngoài địa chỉ pháp lý thông thường (địa chỉ bưu điện) hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e –mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày giờ gửi fax…Những địa chỉ điện tử này có ý nghĩa rất lớn để xác định tính hiện hữu, sự tồn tại thật sự của các bên giao kết hợp đồng với tư cách là chủ thể của việc giao kết hợp đồng điện tử.
+ Các quy định về truy cập, cải chính thông tin điện tử (ví dụ như việc thu hồi hay hủy một đề nghị giao kết hợp đồng trên mạng Internet…)
+ Các quy định về chữ ký điện tử hay một cách thức khác ( như mật khẩu, mã số…) để xác định được các thông tin có giá trị về các chủ thể giao kết hợp đồng.
+ Về thanh toán trong các hợp đồng điện tử cũng thường được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Vì vậy trong hợp đồng điện tử thường có các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử, ví như thanh toán bằng thẻ tín dụng, việc bảo mật các thông tin liên quan đến thẻ tín dụng cho khách hàng.

3.4 Về quy trình giao kết hợp đồng điện tử

Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống. Một hợp đồng truyền thống sẽ được giao kết bằng việc các bên trực tiếp gặp nhau hay trao đổi với nhau bằng các phương tiện “ giấy tờ”, “ vật chất” và ký bằng chữ ký tay. Còn một hợp đồng điện tử sẽ được giao kết bằng phương tiện điện tử và hợp đồng sẽ được ký bằng chữ ký điện tử. Hai phương thức giao kết hoàn toàn khác nhau sẽ làm phát sinh những điểm khác biệt lớn liên quan đến quy trình giao kết: việc xác định thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng điện tử sẽ trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống vì thời điểm “gửi” và “nhận” một thông điệp dữ liệu (chính là một chào hàng hay chấp nhận chào hàng) trở nên khó xác định trong môi trường điện tử. Việc tạo lập một “ chữ ký” trong môi trường điện tử hay việc áp một “con dấu” sẽ không thể được thực hiện như đối với hợp đồng truyền thống.

3.5 Về pháp luật điều chỉnh

Về mặt pháp lý, ngoài các quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng cho các hợp đồng truyền thống và hợp đồng điện tử, do tính chất đặc thù cảu hợp đồng điện tử và do những vấn đề pháp lý đặc biệt (hay chính các rủi ro về mặt pháp lý) nảy sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử mà loại hợp đồng này thường còn phải được đặc biệt điều chỉnh bởi một hệ thống quy phạm pháp luật đặc thù, dành riêng cho hợp đồng điện tử. Điều đó giải thích tại sao để phát triển hoạt động thương mại điện tử nói chung và tăng cường giao kết hợp đồng điện tử nói riêng, ở phạm vi quốc gia hay quốc tế, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xây dựng một khung pháp lý giành riêng cho hoạt động thương mại điện tử trong đó có những quy định về hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng điện tử. Ví dụ như các quy định về giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, của chữ ký điện tử, của một bản gốc hợp đồng, các quy định về việc chứng thực chữ ký điện tử. …Và vì vậy ngày nay ở nhiều nước, bên cạnh các đạo luật về hợp đồng truyền thống người ta phải ban hành Luật giao dịch điện tử, luật về giao kết hợp đồng điện tử, luật về thương mại điện tử, luật về chữ ký điện tử…

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê