Căn cứ pháp lý:
- Luật Quan hệ lao động (Industrial Relations Act 1967) Malaysia;
- Luật Malaysia số 732 về Hội đồng tư vấn lương quốc gia sắc luật 2011 (National Wages Conssultative Council Act 2011).
1. Khuôn khổ luật pháp về quan hệ lao động
Năm 1967, Malaysia đã ban hành Luật Quan hệ lao động (Industrial Relations Act 1967), gồm có 10 chương, quy định cụ thể các vấn đề như: bảo vệ quyền của người lao động và người sử dụng lao động và các tổ chức đại diện của họ, công nhận và phạm vi đại diện của các liên đoàn (tổ chức) đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động, thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể, hoạt động hòa giải, đại diện của các bên tại các vụ xử về sa thải (cho nghỉ việc), tổ chức và hoạt động của Tòa lao động, các hoạt động điều tra về các tranh chấp lao động, quy trình thủ tục tiến hành tranh chấp lao động, đình công, bế xưởng và các phát sinh từ các hành động này.
Từ các nội dung được quy định trong Luật về Quan hệ lao động của Malaysia, có thể thấy luật quy định về 3 nhóm vấn đề chính gồm:
(i) Chủ thể trong quan hệ lao động (người lao động và người sử dụng lao động và các tổ chức đại diện của họ;
(ii) Sự tương tác giữa các chủ thể này (thương lượng, thỏa ước, tranh chấp, đình công, bế xưởng); và
(iii) Các hoạt động quản lý, hỗ trợ sự tương tác này (công nhận các tổ chức đại diện, hòa giải, tòa án, điều tra).
2. Các thiết chế về quan hệ lao động
Các thiết chế về quan hệ lao động của Malaysia được xây dựng theo một mô hình riêng, với một triết lý là có sự tham gia khá sâu rộng của Nhà nước vào các cơ chế ba bên. Các thiết chế ba bên của Malaysia gồm:
+ Hội đồng cố vấn lao động quốc gia (National Labour Advisory Council). Đây là cơ quan mang tính chất ba bên cấp cao nhất, đứng đầu là Bộ trưởng Bộ Nhân lực Malaysia. Hội đồng này họp 6 tháng 1 lần để thảo luận và quyết định những vấn đề theo yêu cầu của các đối tác xã hội (công đoàn và đại diện cho người sử dụng lao động);
+ Ban Phát triển nhân lực (Manpower Development Board);
+ Ban An sinh xã hội (Social Security Board) thuộc Tổ chức an sinh xã hội Malaysia (SOCSO) đảm bảo phúc lợi cho người lao động bị tai nạn lao động;
+ Ban Khiếu nại về vấn đề an sinh xã hội;
+ Quỹ Phát triển nguồn lực;
+ Ủy ban Cố vấn quốc gia về tinh giản biên chế;
+ Hội đồng Tiền lương của lao động làm nghề bán hàng;
+ Hội đồng Tiền lương của nhân viên nhà hàng, quán bar và khách sạn;
+ Hội đồng Cố vấn quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động;
Chức năng quản lý Nhà nước về quan hệ lao động được giao cho Cục Quan hệ lao động, thuộc Bộ Nguồn nhân lực (Bộ Lao động) Malaysia. Cục Quan hệ lao động có 4 nhóm chức năng, gồm:
(i) Tham mưu: Tham mưu cho Bộ trưởng về các vấn đề liên quan tới quan hệ lao động, bao gồm cả các vấn đề liên quan tới tòa lao động; tham mưu cho người lao động và người sử dụng lao động và các tổ chức đại diện của họ về các vấn đề liên quan tới quan hệ lao động
(ii) Khuyến trợ: Khuyến trợ việc tổ chức thành lập một cách dân chủ và có trách nhiệm các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động; thúc đẩy và hỗ trợ hoạt động thương lượng giữa các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động về điều kiện việc làm; khuyến trợ việc hình thành cơ chế thương lượng một cách tự nguyện để giải quyết các vấn đề khác biệt giữa người lao động và người sử dụng lao động; duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động để duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa lao động và quản lý.
(iii) Phòng ngừa: Hỗ trợ trong việc ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp lao động, đình công, bế xưởng thông qua các hành động chủ động hỗ trợ (can thiệp) sớm.
(iv) Công tác thông tin và thống kê: Thống kê về tranh chấp, đình công, bế xưởng, thỏa ước lao động, các trường hợp cho thôi việc; thông tin về xu hướng tiền công trên thị trường lao động; chuẩn bị báo cáo về các xu hướng (tình hình) quan hệ lao động, các mức tiền công thực tế và điều kiện việc làm trên thị trường lao động.
Hai điểm nổi bật trong hệ thống quan hệ lao động Malaysia là:
– Cục Quan hệ lao động, thuộc Bộ Nguồn nhân lực (Bộ Lao động) với một số chức năng chính là: Tham mưu, khuyến trợ, phòng ngừa và thông tin, thống kê.
– Thành lập cơ quan tài phán có cơ quan trọng tài quan hệ lao động với phán quyết mang tính bắt buộc thực hiện; có Tòa Quan hệ lao động độc lập với Tòa lao động.
– Ngoài ra Malaysia cũng có cơ chế tham vấn ba bên là Hội đồng tư vấn lao động quốc gia những vai trò mờ nhạt hơn so với Singapore.
3. Những cơ sở pháp lý về lao động nước ngoài tại Malaysia
Ngày 26/8/2011 Nhà vua Malaysia ký Ban hành Luật Malaysia số 732 về Hội đồng tư vấn lương quốc gia sắc luật 2011 (National Wages Conssultative Council Act 2011) và đăng công báo ngày 15/12/2011;
Căn cứ Điều 23 (khoản 1) của Luật trên, Hội đồng tư vấn lương quốc gia ngày 16/7/2012 ban hành Chế độ lương tối thiểu (Minimum Wages Order 2012) và có hiệu lực thi hành vào 01/01/2013;
Ngày 06/9/2012 Hội đồng tư vấn lương quốc gia ban hành Bản hướng dẫn thực hiện Chế độ tiền lương tối thiểu 2012;
Ngày 30/01/2013 thông cáo báo chí của Bộ trưởng thứ hai Bộ Tài chính về Quyết định của Chính phủ Malaysia cho phép các doanh nghiệp Malaysia được khấu trừ tiền thuế Levy đối với lao động nước ngoài khi thực hiện trả lương tối thiểu;
Ngày 20/02/2013, Ban Thư ký Hội đồng tư vấn lương quốc gia thông cáo báo chí về việc Chính phủ Malaysia cho phép các doanh nghiệp đang thực hiện trả lương tối thiểu được phép trừ từ tiền lương của người lao động nước ngoài tiền thuế Levy và tiền nhà ở và tiếp tục xem xét gia hạn cho 1 số doanh nghiệp có kiến nghị lùi thời hạn thực hiện trả lương tối thiểu cho lao động nước ngoài. Đối với lao động địa phương các doanh nghiệp thực hiện trả lương tối thiểu từ 01/01/2013.
4. Tình hình thực hiện tiền lương tối thiểu lao động Việt Nam
Trong tháng 2 và đầu tháng 3- 2013, Ban Quản lý lao động đã khảo sát tại 13 doanh nghiệp (may mặc, điện tử, bánh kẹo, đồ gỗ, cơ khí, xây dựng…) thuộc các Bang Johor, Melaka, Penang, Negari Sembilan và có một số đánh giá như sau:
– Có 8/13 doanh nghiệp thực hiện trả lương theo mức lương tối thiểu 900RM/tháng, trong đó có 2 Công ty Outsoursing.
– Các doanh nghiệp thực hiện trả mức lương tối thiểu và khấu trừ các khoản vào tiền lương khác nhau, cụ thể:
* Thuế Levy
Có doanh nghiệp trừ thuế Levy ngay từ tháng 1/2013 khi thực hiện trả mức lương tối thiểu 900RM/tháng đối với tất cả công nhân; có doanh nghiệp chưa trừ, có doanh nghiệp trừ khi người lao động làm thủ tục gia hạn giấy phép lao động năm tiếp theo.
Tiền nhà ở, tiền chuyên chở công nhân đi và về.
+ Trong tháng 1 các doanh nghiệp đều chưa trừ. Trong tháng 2, khi có quyết định
mới, các doanh nghiệp đã thu tiền nhà ở với các mức khác nhau, một số doanh nghiệp
trừ cả tiền chuyên chở lao động đi làm và về, việc trừ này được các doanh nghiệp
thực hiện rất tùy tiện, với các mức khác nhau, nên gây nhiều bức xúc cho người lao
động.
+ Các khoản trợ cấp như trợ cấp chuyên cần, trợ cấp ăn, trợ cấp làm ca…
Đều bị cắt khi thực hiện trả mức lương tối thiểu mới.
+ Thời gian làm thêm: Không có hoặc rất ít.
Một số doanh nghiệp thực hiện trả mức lương học nghề (70% lương tối thiểu) đối với số lao động sang sau 01/7/2012. Thu nhập của người lao động sau khi được trả theo mức lương tối thiểu mới tăng không nhiều (khoảng 5-10%), do không có thời gian làm thêm và các khoản phụ cấp, một số doanh nghiệp thu nhập của người lao động còn thấp hơn khi thực hiện lương cũ, nhất là đối với số chỉ được trả 70% lương tối thiểu.
Qua hơn hai tháng thực hiện trả lương tối thiểu, nảy sinh nhiều bức xúc của người
lao động do quyền lợi không được như trước và việc không được thực hiện thống nhất giữa các doanh nghiệp. Đây cũng là các vấn đề chung đối với lao động nước ngoài tại Malaysia, nên đã có những phản đối tiêu cực như ở một vài nhà máy đình công, lãn công hoặc không yên tâm làm việc.
5. Hợp tác về lao động của Malaysia và Việt Nam
Theo thông tin mới nhất từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam đang làm việc tại Malaysia, đặc biệt là trong tiếp cận với các công việc có tay nghề và thu nhập ổn định, ngày 08/08/2015, Việt Nam và Malaysia đã ký kết lại Bản Ghi nhớ về tuyển dụng và sử dụng lao động.
Theo nội dung Bản Ghi nhớ này, người lao động Việt Nam có quyền được giữ hộ chiếu và các giấy tờ cá nhân. Đây là những cơ sở quan trọng giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia.
Bản ghi nhớ này là cơ sở hợp tác chung giữa hai nước về lao động và để tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia trong thời gian tới. Bản ghi nhớ gồm 13 điều, quy định phương thức, nguyên tắc hợp tác, hợp đồng lao động, điều kiện tuyển dụng lao động, thời hạn sử dụng lao động, trách nhiệm của các bên, giải quyết tranh chấp...
Điều thay đổi quan trọng là bản ghi nhớ có 3 phụ lục kèm theo về mẫu hợp đồng lao động, quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động, công ty môi giới Malaysia, người lao động và doanh nghiệp Việt Nam và phụ lục quy định các điều khoản tham chiếu cho đại diện của hai Chính phủ theo dõi quá trình triển khai thực hiện Bản ghi nhớ.
Đặc biệt, trong hợp đồng mẫu có nội dung quy định người lao động có quyền được giữ hộ chiếu và các giấy tờ cá nhân. Đây là những cơ sở quan trọng giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia.
Với việc ký Bản ghi nhớ lần này, Việt Nam được phép đưa lao động sang làm việc tại Malaysia và có quyền được trao đổi các thông tin về pháp luật và chính sách của hai nước liên quan đến vấn đề lao động và việc làm. Bên cạnh đó, phía Việt Nam sẽ thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để phòng ngừa và ngăn chặn vượt biên bất hợp pháp, nạn buôn bán người và tuyển dụng lao động nước ngoài trái pháp luật.
Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang Malaysia làm việc từ năm 2002. Năm 2003, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Malaysia đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác lao động. Đến nay, Việt Nam đã đưa được trên 220.000 lao động sang làm việc tại thị trường lao động này, góp phần giảm sức ép giải quyết việc làm hàng năm ở trong nước, giúp xoá đói giảm nghèo cho người lao động tại nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Tuy nhiên những năm gần đây, số lượng người lao động sang Malaysia có phần giảm sút nhiều. Nguyên nhân do Việt Nam đã mở thêm được một số thị trường lao động mới nên sức hấp dẫn về tiền lương, thu nhập của người lao động tại thị trường này không còn như trước, cơ chế quản lý giám sát đối với lao động nước ngoài còn hạn chế dẫn đến vụ việc phát sinh liên quan đến người lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng.