1. Sự bình đẳng trong hôn nhân và các quan hệ gia đình

Sự căng thẳng ở đây giữa một bên là những cam kết về sự bình đẳng nam nữ trong đời sống gia đình và một bên là những cam kết ghi nhận những tập quán pháp lý mâu thuẫn nhâu trên thực tế đang ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng nam nữ trong đời sống gia đình. Như đã nêu ở trên, các nhà lập hiến nên sử dụng hiến pháp để ghi nhận những cam kết quốc tế, ví dụ như cam kết trong CEDAW. Tương tự, các giải pháp của xung đột, đặc biệt là yêu cầu về sự ghi nhận dân tộc, chủng tộc hoặc nhóm tôn giáo nhằm có được sự ủng hộ từ các nhân tố chính trong xã hội, có thể dẫn đến việc nội dung hiến pháp mâu thuẫn nhau. Các nhà lập hiến có thể có lựa chọn sử dụng nguyên tắc tính tối cao của hiến pháp để vượt qua những tập quán pháp lý kể trên. Điều đó có thể được xem xét dựa trên các giải pháp giải quyết tranh chấp, như là một động lực để hài hòa các cách thức tác động của nhà nước lên các nhóm khác nhau. Điểm khởi đầu có thể là liệt kê những nguyên tắc pháp lý với sự nghi nhận rằng những nguyên tắc nào trái ngược với hiến pháp thì sẽ bị vô hiệu. Do đó, trong lĩnh vực pháp lý, một bảo đảm về thể chế có thể trao quyền cho tòa án phá vỡ các nguyên tắc đó trên cơ sở của sự không tương thích pháp lý. Các nhà lập hiến có thể sử dụng cách tiếp cận đảm bảo rằng các hành động của tòa được xem xét về tính hợp thức bởi các nhóm quan ngại về sự tồn tại và tôn trọng các quy phạm pháp lý phi chính thức. Một cách tiếp cận nữa của Hiến pháp Nam Phi tiếp nhận từ thực tế của hiến pháp một số nước Châu Mỹ latin về quyền của người bản địa là tích hợp các nội dung gây tranh cãi thành một vấn đề pháp lý được giải quyết ở hệ thống tư pháp chính thống. Điều đó có nghĩa là sự tương đồng trong giải thích luật được bảo đảm và mọi nguyên tắc pháp lý được xem xét cẩn trọng. Trong ví dụ về châu Mỹ La-tinh, việc xem xét áp dụng luật của người bản địa là một phần của công việc tư pháp. Trong ví dụ về Nam Phi, Tòa án hiến pháp có quyền “phát triển” luật tập quán là luật chủ yếu dựa trên chế độ gia trường. Trong một vụ việc nổi tiếng, Tòa án sử dụng quyền này để bác bỏ tập tục về vị trí của con trưởng – truyền lại tài sản cho con trai – và yêu cầu các nhóm liên quan điều chỉnh tập tục này theo đó cho phép con gái cũng hưởng thừa kế. Để tòa án có tính chính danh thực hiện công việc này, các nhà lập hiến cần giải quyết vấn đề về thành phần của tòa. Việc thiếu đại diện của một số nhóm trong ghế quan tòa có thể được lợi dụng để bác bỏ các quyết định được đưa ra bởi các thẩm phán không được đào tạo ở hoặc có thiện cảm với những nguyên tắc luật liên quan hoặc cùng quyền lợi với nhóm liên quan.

2. Một số hàm ý

Cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ trong hiến pháp cần đạt được điều gì? Khi khởi đầu, sự tham gia của nữ giới trong xây dựng hiến pháp sẽ đem đến nhiều kết quả: nếu phụ nữ được huy động để quyết định những nội dung của hiến pháp, nhìn chung, họ có thể đảm bảo rằng hiến pháp đề cập đến những nội dung liên quan trực tiếp đến vị thế pháp lý và xã hội của phụ nữ. Các nhóm này thường tạo ra lộ trình giải quyết vấn đề của phụ nữ, gồm những cuộc thương thảo khó khăn thời hậu xung đột. Quyền của phụ nữ có thể được cải thiện nếu chính quyền quốc gia cam kết về điều đó như một mục tiêu và nếu họ phụ thuộc vào tập quán và luật giới địa phương bất chấp sự phản đối từ những người lãnh đạo truyền thống. Nếu một xã hội bị rạn nứt do sự đa sắc tộc, các nhà chính trị quốc gia có thể ít mong muốn hoặc cam kết thúc đẩy về mặt pháp lý một số loại đời sống văn hóa/xã hội lên cấp quốc gia. Nếu các kênh chính trị gần gũi với phụ nữ, các nhà lập hiến có thể cân nhắc cho phép họ chuyển chúng thành các biện pháp pháp lý để tạo cơ hội đòi hỏi quyền lợi. Một quyết định pháp lý trong một số trường hợp cũng có giá trị chính trị, khiến cho các chính trị gia ủng hộ những quan điểm pháp lý, khi mà một quyết định tương tự bởi một cơ quan chính trị sẽ châm ngòi cho những phản đối dữ đội. Do đó, các nhà lập hiến cần cân nhắc tự xuất hiện và phạm vi của những ngoại lệ trong điều khoản về sự bình đẳng trong hiến pháp. Nếu hệ thống hiến pháp đặt mục đích mở rộng số lượng các trung tâm quyền lực, việc áp dụng quyền của phụ nữ càng đa dạng. Phụ nữ cần thỏa thuận về quyền này ở cả cấp quốc gia và địa phương. Đặc biệt là trường hợp mà chính quyền địa phương độc lập tương đối và có khả năng phản khảng lại sự quản lý của chính quyền quốc gia. Quyền của phụ nữ có thể là tâm điểm của tập quán địa phương và những nội dung chính trị vùng miền. Việc bảo vệ quyền của họ cũng có nhiều khác biệt ở các vùng khác nhau. Trong một số trường hợp, sự xuất hiện của những nguyên tắc hiến pháp chung liên quan đến nữ quyền có thể là nền tảng để vận động chính quyền địa phương tuân thủ. Sự tham gia ngày càng tăng của phụ nữ trong các quyết định chính trị sẽ củng cố vị thế của phụ nữ. Và một “cuộc chạy đua chinh phục đỉnh cao” có thể phát sinh, bởi các vùng thường xem những chính sách hành động ủng hộ của địa phương khác là “phương thức tốt nhất”. Sự vận động các quyền của phụ nữ ở đây có thể từ dưới lên như ở Bolivia. Khi không có sự đồng thuận ở cấp quốc gia về quyền của phụ nữ, các nhà lập hiến ở mỗi cấp phải cân nhắc liệu có nên ghi nhận những thói quen mang tính phân biệt ở địa phương vào trong hiến pháp.

3. Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

Trong quá trình xây dựng hiến pháp ở một xã hội chịu ảnh hưởng nhiều của xung đột, những thỏa thuận về vai trò, vị thế và thực thi các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ECOSOC) cũng phải đối mặt với những căng thẳng. Các quyền ECOSOC dẫn đến sự đối kháng bởi vì chúng liên quan đến những người phải chia sẽ các nguồn tài nguyên ít ỏi, mặc dù nếu các nguồn tài nguyên này phù hợp thì chúng có thể hạn chế được sự đối kháng này. Hiến pháp Iraq đảm bảo thực thi các quyền ECOSO này – bao gồm quyền được giáo dục miễn phí, chăm sóc sức khỏe cả trẻ em và người lớn, môi trường an toàn (mặc dù chưa được định nghĩa), an ninh xã hội, thu nhập ổn định, nhà ở phù hợp và các điều kiện sống tối thiểu cho mọi người Iraq – không kể đến khả năng thực tế về nguồn lực, một phần bởi vì quốc gia này có nguồn thu từ dầu mỏ. Ngoài ra, Hiến pháp còn đề cập đến việc xóa bỏ hoàn toàn nạn mù chữ. Ngược lại, một số quốc gia dựa vào nguồn lực của mình chỉ đảm bảo cho công dân những nhu cầu khẩn thiết như tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nhà ở.

4. Nên bao gồm những nội dung gì?

Những xung đột kéo dài và không giải quyết được có thể dẫn tới việc ghi nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong hiến pháp nhằm: Tạo ra một khuôn khổ trong đó các quyết định ảnh hưởng đến sự phát triển, sử dụng và phân bổ nguồn tài nguyên phải được đánh giá, đặc biệt là khi có thể gây ra xung đột liên quan đến những người có quyền tiếp cận và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên quốc gia. Ràng buộc các quyền lập pháp và hoạch định chính sách và quá trình ra quyết định với các tiêu chuẩn hiến pháp mới về sử dụng nguồn tài nguyên. Thể hiện rằng các cơ quan kinh tế, xã hội và văn hóa của các cá nhân là một phần quan trọng của vị trí công dân trong quốc gia, và việc hưởng các quyền này của không dân không bị coi là phụ thuộc vào dân tộc, tông giáo, nhóm người, đảng chính trị hoặc các hiệp hội khác. Thúc đẩy sự hòa hợp thông qua công nhận quyền ECOSOC của các nhóm cụ thể mà bị buộc liên quan vào các xung đột với chính phủ do việc quy định sai trái và kéo dài liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội và văn hóa của quốc gia; và như các quyền con người khác, đây là khái niệm về một quyền không thể chia tách, tính hợp pháp của hiến pháp thể hiện qua các quyền ECOSOC và sự tôn trọng “hợp đồng xã hội” mới. Các quyền ECOSOC cơ bản được ghi nhận trong Công ước quốc tế của LHQ – ICESCR, có hiệu lực ngày 3/1/1976.

5. Ghi nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong hiến pháp

Do đa phần các quốc gia hiện nay đã phê chuẩn công ước này, việc ghi nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong hiến pháp trong quá trình xây dựng hiến pháp gần đây trở thành phổ biến hơn là ngoại lệ. Nhiều điều khoản của hiến pháp đã sử dụng ngôn ngữ quyền con người của ICESCR. Thậm chí có những quốc gia ví dụ như Ấn Độ, nơi mà Hiến pháp còn ra đời trước ICESCR (1949), cũng đã tìm ra cách “hiến pháp hóa” những quyền này thông qua các quyết định của Tòa án Tối cao tại quốc gia này rằng các quyền này liên quan đến yêu cầu cơ bản để đưa quyền vào cuộc sống và được Hiến pháp bảo vệ. Các quyền ICESCR đòi hỏi các quốc gia phải loại bỏ các rào cản để có thể thực thi ngay các quyền. Mặc dù một số quyền ngày càng được công nhận, rào cản và sự phân biệt cũng nên được loại bỏ ngay. Chính quyền cũng vẫn vi phạm Công ước nếu họ không đạt được các tiêu chuẩn về quyền con người trong chính phương thức và khả năng của mình. Trong quá trình công nhận các quyền, những giới hạn vẫn cần phải được giữ để kiểm tra và tránh sự cắt xén khi mà các nguồn lực trở nên ít ỏi, và các quyền này cần có sự cải thiện tình hình thực tế và bắt đầu quá trình ghi nhận ngay khi các nguồn lực cho phép. Hơn là một bản kế hoạch hành động, ICESCR để cho các chủ thể quốc gia tự xác định mức độ đa dạng theo tình hình riêng của mình, hệ thống pháp lý và các cách thức họ có. Các nhà lập hiến có thể mở rộng để quy định các quyền bổ sung không ghi nhận trong văn kiện này, ví dụ như quyền có nước sạch trong Hiến pháp lâm thời của Nepal. Việc đề cập trong hiến pháp các quyền ECOSOC không nhất thiết là phải áp dụng một hệ thống kinh tế đặc biệt (nền kinh tế tự do hay tập trung), mà nó có thể là kết quả rõ ràng hoặc ngầm hiểu của những cách thức được áp dụng phù hợp với hiến pháp. Những câu hỏi quan trọng dành cho bất kỳ an tham gia vào soạn thảo văn bản hiến pháp là liệu có nên sử dụng con người như là biện pháp để đạt được các mục tiêu kinh tế trung và dài hạn không. Nhiều nhà lập hiến không ủng hộ quan điểm này và phản đối vì rằng các mục tiêu kinh tế được đáp ứng khi các quyền và điều kiện sống của con người do đó bị ảnh hưởng tiêu cực.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )