- 1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là gì?
- 2. Nhận thức chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
- 3. Nội dung chủ yếu liên quan đến hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
- 4. Các điều ước quốc tế làm cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong TTHS
- 5. Sự cần thiết và cơ sở của việc sửa đổi quy định về hợp tác quốc tế của BLTTHS 2015
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là gì?
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Nhận thức chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự có vai trò quan trọng không chỉ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế được ghi nhận trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, nhất là Văn kiện Đại hội VII, Đại hội IX, Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10- 4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 lần đầu tiên ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự với 02 chương (Chương XXXVI, Chương XXXVII), gồm 7 điều (từ Điều 340 đến Điều 346). Tiếp đó, Quốc hội đã ban hành Luật tương trợ tư pháp năm 2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2008. Hai đạo luật này đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau thực hiện các các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự như: tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, tình hình tội phạm, nhất là tội phạm có yếu tố quốc tế, xuyên quốc gia phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, gia tăng về mức độ phức tạp, thủ đoạn phạm tội. Biên giới quốc gia trở nên mờ nhạt trong các lĩnh vực hoạt động của tội phạm. Theo đó, nhiều yêu cầu mới về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đã nảy sinh trong thực tiễn và được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Việt Nam đã ký kết nhưng chưa được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Luật tương trợ tư pháp năm 2007 điều chỉnh. Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan nhằm hướng tới mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, góp phần tăng cường hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực với các quốc gia trên thế giới trong tình hình mới.
3. Nội dung chủ yếu liên quan đến hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Liên quan đến hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự có 03 nội dung chủ yếu: (1) Các nguyên tắc chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (2) Những vấn đề mang tính hành chính tư pháp trong thực hiện hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự; (3) Trình tự, thủ tục tố tụng hình sự để thực hiện các yêu cầu về hợp tác quốc tế. Qua rà soát cho thấy, Phần thứ tám Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 điều chỉnh một số nguyên tắc chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; dẫn độ và chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án. Luật tương trợ tư pháp năm 2007 điều chỉnh những nguyên tắc chung về tương trợ tư pháp; trình tự, thủ tục hành chính tư pháp và một số trình tự, thủ tục tố tụng hình sự để thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Trước thực trạng pháp luật nêu trên, Phần thứ tám - Hợp tác quốc tế của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được thiết kế trên cơ sở quán triệt 02 nguyên tắc cơ bản: (1) Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (2) Bảo đảm sự thống nhất, không trùng lặp giữa quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tương trợ tư pháp. Theo đó, Phần này chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc chung, cơ bản về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và những vấn đề về trình tự, thủ tục tố tụng có liên quan đến hợp tác quốc tế để giải quyết vụ án hình sự.
Kết quả, Phần thứ tám - Hợp tác quốc tế của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có 18 điều, tăng 11 điều so với Phần thứ tám - Hợp tác quốc tế của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, được kết cấu thành 02 chương: Chương XXXV (từ Điều 491 đến Điều 496) - Những quy định chung và Chương XXXVI (từ Điều 497 đến Điều 508) - Một số hoạt động hợp tác quốc tế.
4. Các điều ước quốc tế làm cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong TTHS
- Trong các điều ước quốc tế đa phương thì các điều ước sau đây là cơ sở pháp để cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam thực hiện hợp tác với các cơ quan tố tụng nước ngoài trong hoạt động TTHS, ba công ước quốc tế của Liên hợp quốc về phòng, chống ma túy, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; chín điều ước quốc tế và khu vực ASEAN về chống khủng bố; Công ước quốc tế về quyền trẻ em và các Nghị định thư bổ sung; Hiệp định TTTP về hình sự giữa các nước ASEAN. Hiện nay, Nhà nước ta trong quá trình hoàn thiện các thủ tục pháp lý để phê chuẩn việc gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Bên cạnh đó, cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam là thành viên chính thức của Interpol tháng 11 năm 1991 và Aseanapol 1996 nên điều lệ và những quy định chung của Interpol, Aseanapol đã điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể là thành viên, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam.
- Các hiệp định song phương về TTTP, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù là cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong TTHS. Cho đến nay, Nhà nước ta đã ký kết 24 hiệp định TTTP và dẫn độ với các nước như: Liên bang Cộng hoà XHCN Xô viết (10/12/1981); Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc (ngày 12/10/1982); Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ri (ngày 18/01/1985); Cộng hòa nhân dân Bun-ga-ri (ký ngày 03/10/1986 và phê chuẩn ngày 05/6/1987); Cộng hòa Ba Lan (ký ngày 22/3/1993); Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 06/7/1998); Liên bang Nga (ngày 25/8/1998) [10] ; Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 19/10/1998); Cộng hoà U-crai-na (ký ngày 06/4/2000)12); Mông Cổ (ngày 17/4/2000); Cộng hòa Bê-la-rut (năm 2000); Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên về TTTP và pháp lý trong các vấn đề dân sự và hình sự (ký ngày 3/5/2002); Hàn Quốc (Nhà nước ta đã ký hai hiệp định: TTTP về hình sự; hiệp định về dẫn độ), Ấn Độ, Angiêri; ký các hiệp định về chuyển giao người bị kết án với Ôx-trây-lia, Vương quốc Anh và Bắc Ai-len, Angiêri.
Hệ thống văn bản nói trên là cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam thực hiện hợp tác quốc tế trong TTHS.
- Cùng đó, Chính phủ Việt Nam ký kết với Chính phủ các nước liên quan đến hợp tác quốc tế trong TTHS, như các hiệp định về lãnh sự, các hiệp định, văn bản thỏa thuận giữa Việt Nam và các nước trong hợp tác phòng, chống ma tuý và tội phạm với Chính phủ các nước láng giềng, các nước có đông người Việt Nam đang sinh sống, làm việc như Cộng hoà Liên bang Nga, Hung-ga-ry; Vương quốc Cam-pu-chia, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; Chính phủ Vương quốc Thái Lan, Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa...
5. Sự cần thiết và cơ sở của việc sửa đổi quy định về hợp tác quốc tế của BLTTHS 2015
Trong quan hệ quốc tế, chủ quyền quốc gia được xem là nguyên tắc tối cao và bất khả xâm phạm. Do vậy, khi có tội phạm mang yếu tố nước ngoài xảy ra, đòi hỏi phải có sự hợp tác của các quốc gia liên quan để giải quyết các vấn đề về dẫn độ, tương trợ tư pháp tiến hành các hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ, tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng, truy tìm, bắt giữ người phạm tội…và chuyển giao người phạm tội. Đây là xu thế tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay và việc đấu tranh xử lý tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia không thể nằm ngoài quy luật khách quan đó của thời đại. Hợp tác quốc tế trong Tố tụng hình sự (TTHS) giữ vị trí quan trọng trong thủ tục của quá trình giải quyết vụ án hình sự ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới.
Ở Việt Nam, trên cơ sở quy định của các Điều ước quốc tế, các Hiệp định (Hiệp định về dẫn độ, Hiệp định về tương trợ tư pháp) đã tham gia, ký kết với các quốc gia khác chúng ta đã nội luật hóa, hình thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế trong TTHS, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh xử lý tội phạm. Hợp tác quốc tế trong TTHS ở nước ta xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ trước và được phát triển, hoàn thiện khi tiến hành đổi mới, hội nhập quốc tế với việc ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về nguyên tắc, điều kiện, thủ tục làm cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện hợp tác quốc tế trong TTHS, trong số đó đáng chú ý là Luật tương trợ tư pháp năm 2007 và Phần thứ tám BLTTHS năm 2003: “Hợp tác quốc tế” đã quy định khá đầy đủ những nội dung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Những văn bản này được hình thành trên cơ sở định hướng của Nghị quyết 08/NQ Bộ Chính trị “Tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp và các hiệp định phòng chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập”, làm cơ sở, phương hướng để các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết các vấn đề hợp tác quốc tế trong Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTS năm 2003 cho thấy những bất cập của pháp luật và hạn chế trong thực tiễn đấu tranh, xử lý tội phạm. “Trước bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, tình hình tội phạm, nhất là tội phạm có tính chất quốc tế, xuyên quốc gia phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, gia tăng về mức độ phức tạp, thủ đoạn phạm tội. Biên giới quốc gia trở nên mờ nhạt trong các lĩnh vực hoạt động của tội phạm”. Đồng thời, nhiều yêu cầu mới về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đã nảy sinh trong thực tiễn và được ghi nhận trong các điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Việt Nam đã ký kết nhưng chưa được nội luật hóa. Do đó, BLTTHS năm 2015 đã “sửa đổi bổ sung nhiều quy định nhằm hướng tới mục tiêu hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, góp phần tăng cường hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực với các quốc gia trên thế giới trong tình hình mới”. Quy định của BLTTHS năm 2015 đáp ứng được nhu cầu hợp tác quốc tế về đấu tranh xử lý tội phạm trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, tội phạm có yếu tố quốc tế, xuyên quốc gia phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, gia tăng về mức độ phức tạp, thủ đoạn phạm tội tinh vi ở Việt Nam.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dành Phần thứ VIII quy định về Hợp tác quốc tế trong Tố tụng hình sự (từ Điều 497 đến Điều 508) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018 và Luật tương trợ tư pháp năm 2007 được ban hành có hiệu lực từ 01/7/2008. Ngoài ra còn một số văn bản dưới luật của các cơ quan có thẩm quyền. Hai đạo luật nêu trên cùng các văn bản hướng dẫn thi hành của các cơ quan có thẩm quyền đã tạo nền tảng pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam và ở nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự như: Tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người chấp hành án phạt tù và các hợp tác quốc tế khác.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)