1. Sự độc lập và tính chịu trách nhiệm của tư pháp

Phần trước chương này đã phác thảo vài nét về các thẩm quyền có thể có của tư pháp, phần này sẽ chuyển sang thảo luận về tầm quan trọng của sự độc lập của tư pháp và các cơ chế hiến pháp mà theo đó các nhánh quyền khác có thể có ảnh hưởng hoặc giám sát nhánh tư pháp. Sự độc lập của tư pháp, bất kể các quyền lực và nhiệm vụ cụ thể mà hiến pháp trao cho nó, là một phần thiết yếu bảo đảm hiến pháp được thi hành đúng. Sự độc lập của tư pháp là hòn đá tảng của pháp quyền, theo đó, đòi hỏi sự áp dụng và giải thích luật bình đẳng và không thiên vị. Đây cũng là yêu cầu thiết yếu cho việc thực thi các điều khoản về quyền con người cũng như các bảo đảm khác của hiến pháp, nó cũng tăng cường khả năng của tư pháp tham gia một cách độc lập và có ý nghĩa vào việc giải quyết các tranh chấp và vào quá trình kiểm hiến. Nhiều bản Hiến pháp quy định rõ về việc cam kết tuân thủ nguyên tắc độc lập của tư pháp. Trong số các hiến pháp hiện hành, có tới 65% hiến pháp chứa đựng các quy định như vậy. Số lượng này cũng đang tăng dần.

2. Hiến pháp cam kết tuân thủ nguyên tắc độc lập của tư pháp

Bảng 1 chỉ ra xu hướng ghi nhận rõ trong Hiến pháp cam kết tuân thủ nguyên tắc độc lập của tư pháp. Một nhánh tư pháp phụ thuộc và dễ sai khiến sẽ dẫn đến việc các nhánh chính trị có những quyền lực không bị kiềm chế, làm suy yếu sự bảo vệ quyền của các cá nhân và tạo cơ hội cho tham nhũng. Tuy nhiên, một nhánh tư pháp quá mạnh mẽ cũng sẽ làm tổn hại đáng kể tính tự trị và trách nhiệm chính trị của nhánh chính trị. Bên cạnh đó, để duy trì sự bảo vệ pháp quyền, nhánh tư pháp phải có trách nhiệm trong việc thực thi công lý một cách hiệu quả và kịp thời. Vì vậy, Hiến pháp phải tạo ra một mức độ ảnh hưởng hoặc giám sát của các nhánh chính trị hoặc các cơ quan giám sát, chẳng hạn như hội đồng tư pháp, đối với nhánh tư pháp để bảo đảm yêu cầu về tính chịu trách nhiệm của nhánh tư pháp. Để tạo ra sự cân bằng hợp lý giữa sự độc lập và khả năng chịu trách nhiệm của tư pháp, các nhà lập hiến phải xem xét cẩn trọng bối cảnh cụ thể của quốc gia. Có rất nhiều nhân tố, kể cả trong phạm vi văn bản hiến pháp lẫn bên ngoài, có ảnh hưởng đến sự độc lập của tư pháp. Phần này sẽ tập trung vào ba khả năng có thể lựa chọn khi thiết kế hiến pháp khi muốn có sự tác động trực tiếp đến tính độc lập và tính chịu trách nhiệm của nhánh tư pháp. Đầu tiên là thông qua việc lựa chọn thẩm phán. Đây là công cụ đặc biệt hữu hiệu mà qua đó, các nhánh quyền lực khác có thể gây ảnh hưởng đối với tư pháp. Ở nhiều quốc gia, đây là một vấn đề dễ gây tranh cãi. Vấn đề thứ hai liên quan đến sự độc lập của tư pháp là giới hạn nhiệm kỳ của thẩm phán. Một nhiệm kỳ dài hạn có thể giúp thẩm phán tránh khỏi sự trả đũa chính trị do có những quyết định không được các nhánh quyền lực khác ủng hộ; thẩm phán sẽ giảm bớt được những mối quan ngại mang tính cá nhân khi đưa ra phán quyết, và điều đó cũng trao cho thẩm phán sự tự chủ và độc lập dựa trên những nền tảng pháp lý thay vì chính trị. Nhưng mặt khác, một nhiệm kỳ dài hạn cũng có thể xem như tiến trình thay đổi và tiến triển của luật bị giới hạn. Vấn đề cuối cùng là việc bãi nhiệm thẩm phán. Hiến pháp có nhiều cách thức khác nhau để chống lại sự bãi nhiệm thẩm phán tùy tiện hoặc bãi nhiệm dựa trên những động cơ chính trị.

3. Lựa chọn thẩm phán

Như đã thảo luận ở phần trên, quyền chọn lựa thẩm phán có ảnh hưởng đáng kể đến sự cân bằng quyền lực. Phần lớn các Hiến pháp trao các quyền này cho các nhánh chính trị mà thường là Tổng thống hay Thủ tướng, nhưng hiếm khi Hiến pháp cho phép Tổng thống và Thủ tướng quyền quyết định này mà không có sự ủng hộ, đề xuất hay phê chuẩn của một nhánh quyền lực khác. Mặt dù vậy, nhánh hành pháp vẫn có khá nhiều quyền lực trong lĩnh vực này. Ở Zimbabwe, Tổng thống, với sự tư vấn của Hội đồng Nhân sự Tư pháp (Judicial Service Commission), có quyền bổ nhiệm thẩm phán. Tuy vậy, Tổng thống cũng là người bổ nhiệm phần lớn các thành viên của Hội đồng này, do đó ở một mức độ nhất định, quy định này đã phá vỡ mục đích phân tản quyền bổ nhiệm thẩm phán. Tại một số quốc gia khác, lập pháp có nhiều kiểm soát hơn đối với việc bổ nhiệm thẩm phán. Ở nước Cộng hòa Macedonia (Nam Tư cũ), lập pháp bầu ra các thành viên của cả Tòa án Hiến pháp và Hội đồng Tư pháp – các cơ quan sẽ đề xuất việc bầu chọn và bãi nhiệm thẩm phán, đánh giá năng lực và giám sát việc xem xét trách nhiệm giải trình của thẩm phán. Trong nhiều bản hiến pháp, nhánh hành pháp và lập pháp đều tham gia vào quá trình bổ nhiệm thẩm phán của các tòa án cấp cao nhất. Tại Hungary, nhánh lập pháp bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Hiến pháp, trong khi đó Tổng thống bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao. Tại Indonesia, nhánh lập pháp và hành pháp đều tham gia vào quá trình bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án Tối cao, Hội đồng Tư pháp và Tòa án Hiến pháp. Ngay cả khi thẩm phán cố gắng gạt ra ngoài những quan điểm chính trị hoặc cá nhân khi giải thích pháp luật thì kinh nghiệm và định hướng của bản thân thẩm phán cũng vẫn tất yếu có ảnh hưởng tới các quyết định được đưa ra. Các tác nhân chính trị khi bổ nhiệm thẩm phán theo lẽ thường sẽ cố lựa chọn những người ccó cùng nguyên tắc chính trị. Do vậy, quyền bổ nhiệm, khi có sự tham gia của nhánh hành pháp hoặc lập pháp, là sự kiểm soát mang tính chính trị đối với nhánh tư pháp. Vì vậy, hiến pháp quốc gia nào cho phép các nhánh chính trị bổ nhiệm thẩm phán thì chính là quốc gia đó ủng hộ quan điểm đặt ảnh hưởng chính trị lên đặc tính và kết cấu của tư pháp.

4. Hiến pháp có thể làm giảm thiểu rủi ro

Bằng việc trao trách nhiệm lựa chọn thẩm phán cho nhiều chủ thể, hiến pháp có thể làm giảm thiểu rủi ro rằng bất cứ cá nhân nào cũng có thể có ảnh hưởng quá nhiều đối với sự phát triển của luật. Một hệ thống như vậy cũng có thể loại bỏ những thẩm phán có ý thức hệ quá cực đoan, bởi phần lớn các ứng cử viên được lựa chọn sau khi đã đạt đượcthỏa hiệp thông qua thương lượng chính trị. Ví dụ, theo Hiến pháp Ethiopia và Nam Phi, Hội đồng Tư pháp có tham gia vào quá trình lựa chọn thẩm phán Tòa án Hiến pháp. Ở Brazil, Tổng thống lựa chọn các ứng cử viên cho nhánh tư pháp, sau đó họ cần được cơ quan lập pháp phê chuẩn. Để tối đa hóa tính đa dạng của các quan điểm trong nhánh tư pháp, Hiến pháp Italia trao cho Tổng thống, Nghị viện và các tòa án cấp dưỡi, mỗi cơ quan được lựa chọn 1/3 số thành viên của Tòa án Hiến pháp. Sự bảo vệ pháp lý có thể củng cố sự độc lập của tư pháp. Nhiều hiến pháp quy định rõ những tiêu chuẩn lựa chọn để giới hạn số lượng các ứng viên thẩm phán tiềm năng. Tiêu chuẩn này bao gồm giới hạn độ tuổi, dân tộc, nguồn gốc tôn giáo, trình độ pháp luật và kinh nghiệm công tác. Các nhà lập hiến có thể lựa chọn một số tiêu chuẩn nhất định để đạt tới sự cân bằng trong nhánh tư pháp, bảo đảm sự đa dạng về quan điểm, hoặc để khuyến khích tính chuyên nghiệp hơn là tính chính trị trong nhánh tư pháp. Một cách thức bảo vệ pháp lý khác đối với sự độc lập của tư pháp là sự tham gia của một cơ quan độc lập, không thiên vị trong quá trình chọn lựa thẩm phán. Hiến pháp Bosnia và Heregovia trao cho một cơ quan quốc tế, Tòa án Nhân quyền Châu Âu, lựa chọn 3 trong số 9 thẩm phán của Tòa án Hiến pháp. Một số hiến pháp khác trao cho cơ quan độc lập (nội địa) quyền lựa chọn thẩm phán, mặc dù những cơ quan này thường hoạt động song song cùng các nhánh chính trị. Ví dụ, ở Uganda, Hội đồng Nhân sự Tư pháp (Judicial Service Commission) chỉ định thẩm phán tòa án cấp dưới nhưng khi bổ nhiệm thẩm phán của tòa án cấp cao nhất, vai trò của Hội đồng chỉ dừng lại ở việc tư vấn cho Tổng thống bổ nhiệm và sau đó cần có sự phê chuẩn từ Nghị viện. Sự tham gia của các hội đồng tư pháp hoặc hội đồng nhân sự tư pháp độc lập có thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán sẽ bảo vệ chắc chắn hơn và thậm chí tăng cường sự độc lập của nhánh tư pháp bằng cách giảm thiểu đánh kể sự kiểm soát chính trị đối với vấn đề này. Bản thân nhánh tư pháp cũng có thể tham gia hoặc thậm chí có sự kiểm soát tuyệt đối trong quá trình bổ nhiệm thẩm phán.

5. Bổ nhiệm thẩm phán theo hướng này sẽ tối đa hóa sự độc lập của tư pháp

Cách thiết kế quay trình bổ nhiệm thẩm phán theo hướng này sẽ tối đa hóa sự độc lập của tư pháp, nhưng đồng thời cũng tạo ra sự tập trung quyền lực vào nhánh tư pháp. Trong khi nhánh tư pháp, khi so sánh với các nhánh chính trị, có khả năng chọn lựa được các thẩm phán vô tư và có năng lực hơn - mặc dù cũng không có bằng chứng nào cho lập luận này - thì điều đó cũng có khả năng dẫn tới việc lựa chọn những thẩm phán có tính đại diện kém hơn. Hơn thế nữa, việc trao quyền bổ nhiệm chỉ riêng cho nhánh tư pháp sẽ bỏ qua sự kiểm tra chính trị quan trọng lên tư pháp - thiết chế vốn không mang tính chính trị, và có thể có lúc lại xâm phạm chính sự độc lập của tư pháp dưới hình thức là phương thức đối phó. Theo Hiến pháp Bồ Đào Nha, các thẩm phán được bầu được trao quyền bổ nhiệm một bộ phận thành viên cho hội đồng xét xử. Ở Bulgaria, nhánh tư pháp cũng có quyền bổ nhiệm thẩm phán: thẩm phán của các tòa án cao nhất có thể bổ nhiệm thành viên của tòa án cấp thấp hơn. Tương tự, theo Hiến pháp Afghanistan, Tòa án Tối cao đề cử các thẩm phán cho các án cấp dưới . Bảng 2 minh họa quy trình bổ nhiệm thẩm phán trong một số bản hiến pháp. Ba khả năng có thể lựa chọn khi thiết kế hiến pháp khi muốn có sự tác động trực tiếp đến tính độc lập và tính chịu trách nhiệm của nhánh tư pháp là thông qua cách thức lựa chọn và bổ nhiệm thẩm phán, giới hạn nhiệm kỳ thẩm phán và quy trình bãi nhiệm thẩm phán.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )