Mục lục bài viết

1. Mức phạt khi sử dụng điện thoại khi lái xe ?

Thưa Luật sư! Tôi muốn hỏi hành vi sử dụng điện thoại khi điều khiến xe mô tô, xe ô tô tham gia giao thông sẽ bị xử phạt thế nào?
Mong Luật sư tư vấn giúp.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông miễn phí, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ đường sắt quy định người điều khiển ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô dùng tay sử dụng điện thoại di động khi đang điều khiển xe chạy trên đường phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng

Điều 5. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
4. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Dùng tay sử dụng điện thoại di động khi đang điều khiển xe chạy trên đường;

Như vậy, hành vi khiển ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô dùng tay sử dụng điện thoại di động khi đang điều khiển xe chạy trên đường phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Đi ngược chiều bị phạt bao nhiêu tiền theo quy định của luật giao thông đường bộ ?

2. Tư vấn giải quyết tình huống va chạm giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em em đi xe máy, đèo mẹ ra bến xe bus và có quay xe để đi về thì một bác gái 61 tuổi đi ngược chiều và có xảy ra va chạm. Ở chỗ em em quay xe không có biển cấm quay đầu. Khi xảy ra va chạm thì em em đã cùng mẹ nhanh chóng đưa bác vào bệnh viện chạy chữa.

Nhưng khi vào thì bác sĩ có nói phải mổ, nhưng khả năng nhiễm trùng cao vì bác ấy bị tiểu đường. Thế là tối hôm ấy bác ý đã trốn viện về nhà và tự ý đắp lá thuốc. Khiến cho bệnh tình nặng thêm. Sau đó mới lại quay vào viện điều trị tiếp. Trong suốt quá trình đó thì nhà em vẫn bảo bác nên vào viện nhưng bác không vào và liên tục gọi điện yêu cầu gia đình em mang tiền vào cho bác mua thuốc kháng sinh tự điều trị. Do đó việc hòa giải gặp khó khăn.

Bây giờ bác ý ra viện lại thì bác sĩ chẩn đoán vỡ mắt cá chân, chờ mổ và vẫn sẽ phải đối mặt với khả năng nhiễm trùng cao. Và bác ý làm đơn kiện nhà em. Cho em hỏi hướng giải quyết nên như thế nào ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đ.H.N

>> Luật sư tư vấn xử lý khi va chạm giao thông, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường

Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định lỗi của 2 bên và từ đó xác định vấn đề bồi thường thiệt hại.

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Thứ hai, nguyên tắc bồi thường

Nguyên tắc bồi thường được quy định Tại điều 585 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Thứ tư, Các khoản phải bồi thường

Theo quy định tại Nghị quyết 03/2006 hướng dẫn áp dụng bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì những thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại: Chi phí này là chi phí khám chữa bệnh, phục hồi chắc năng bị mất hoặc bị giảm sút cần thiết theo sự chỉ định của bác sĩ. Nó không bao gồm chi phí tăng thêm mà do lỗi của bệnh nhân không chịu điều trị kịp thời gây ra.

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

Vậy, nếu gia đình bạn tự nguyện đứng ra bồi thường để kịp thời chữa bệnh cho bác ấy. Nhưng việc bồi thường cũng chỉ tối đa là bồi thường những thương tích trong vụ tai nạn cho bác ấy. Những biến chứng do bác ấy không chịu chữa bệnh là do lỗi của bác ấy và bác ấy sẽ phải tự chịu những chi phí tăng thêm đó.

Ngoài ra Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định cách tính bồi thường như sau:

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.
Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Thứ năm, thời hiệu khởi kiện

Theo quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 3 năm

Điều 588. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Như vậy, Trường hợp bên gia đình bác gái muốn khởi kiện thì phải chứng minh được yếu tố lỗi vi phạm nguyên tắc an toàn giao thông của bên mình, khởi kiện trong vòng 03 năm và sẽ áp dụng nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe như trên đồng thời không bồi thường cho những thiệt hại phát sinh thêm do lỗi của bên người bị thiệt hại trong trường hợp có lỗi, nếu cả 2 bên cùng có lỗi thì cần xác định lỗi của 2 bên để bù trừ nghĩa vụ.

3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nguyên tắc của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tôn trọng thỏa thuận giữa các bên, tức là sau khi xảy ra thiệt hại các bên thỏa thuận với nhau về mức bồi thường; hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc; phương thức bồi thường là một lần hay nhiều lần và theo đó các bên phải thực hiện theo thỏa thuận. Tuy nhiên có nhiều trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc bồi thường, khi đó, việc bồi thường được thực hiện theo nguyên tắc:

  • Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của Bộ Luật Dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.
  • Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

Có thể hiểu nguyên tắc trên gồm 2 điều kiện song song với nhau:

  • Không có lỗi hoặc có lỗi vô ý
  • Thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại

Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường nếu đáp ứng đủ cả hai điều kiện trên. Việc chứng minh thiệt hại là quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại cần khách quan, trung thực. Ví dụ: Một bác đạp xích lô với thu nhập hàng tháng khoảng 3 triệu đồng làm hư hỏng chiếc nhẫn kim cương trị giá 2,3 tỷ đồng của khách hàng với lỗi vô ý. Trong trường hợp này bác đạp xích lô có thể được giảm mức bồi thường bởi đáp ứng đủ điều kiện nói trên

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường

Trong nhiều trường hợp do sự thay đổi về tình hình kinh tế, sự biến động về giá cả dẫn đến mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, bởi vậy nguyên tắc này đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ví dụ: Tại thời điểm hai bên thỏa thuận tài sản bồi thường là 2 lượng vàng, nhưng thời điểm hiện tại giá vàng tăng lên cao hơn rất nhiều so với thời điểm thỏa thuận, làm cho người vi phạm khó lòng bồi thường. Như vậy bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường cho phù hợp.

- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra

Thông thường thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó, nhưng trong nhiều trường hợp người bị thiệt hại lại là người có lỗi dẫn đến thiệt hại, như vậy luật quy định người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình. Có thể xảy ra hai trường hợp, một là thiệt hại hoàn toàn do người bị thiệt hại gây ra, như vậy người bị thiệt hại sẽ không nhận được bồi thường. Hai là thiệt hại một phần do người bị thiệt hại gây ra, còn một phần do lỗi của người gây thiệt hại, như vậy người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần thiệt hại không phải do lỗi của mình.

- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình

4. Xác định thiệt hại

Tại Mục 2 Chương XXI Bộ luật Dân sự quy định có các loại thiệt hại sau:

- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Thông thường, khi tài sản bị xâm phạm, việc xác định thiệt hại thường dễ dàng hơn bởi vì sự thiệt hại về tài sản thì luôn luôn được định giá một cách cụ thể, hơn nữa thiệt hại về tài sản phần lớn là sự mất mát, hư hỏng, hoặc tài sản bị hủy hoại nên thường có số liệu cụ thể.

- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Khi xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, Tòa án phải dựa vào các chứng từ do đương sự cung cấp để quyết định mức bồi thường. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên có những khoản chi phí không thể có hóa đơn như: khoản chi phí thuê xe máy đưa người đi cấp cứu thường không có hóa đơn, chứng từ nên khi xác định Hội đồng xét xử thường chỉ dựa vào thực tế chi phí của người bị thiệt hại để xác định.

- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng và tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.

Theo quy định của Điều 586 BLDS 2015 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì khoản chi phí mai táng phí được liệt kê cụ thể và Tòa án khi xét xử có thể dựa vào đó để xác định. Tuy nhiên, nếu dựa vào các chi phí cụ thể do thân nhân bị hại đưa ra như tiền mua áo quan, hoa lễ, khăn xô, ... thì cũng cần phải thấy rằng giá cả của các loại đồ tang lễ này trên thị trường sẽ khác nhau. Do vậy, cần phải xác định cụ thể mức tổi thiểu và mức tối đa của các khoản tiền này.

Việc xác định khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng không có căn cứ cụ thể nên khi áp dụng pháp luật có sự không thống nhất. Thông thường, để đưa ra mức cấp dưỡng này, Tòa án thường dựa vào hoàn cảnh kinh tế gia đình cũng như mức thu nhập bình quân để quyết định. Một số trường hợp, khi xét xử Hội đồng xét xử lại dựa vào mức lương tối thiểu để xác định mức cấp dưỡng, có trường hợp thì lại xác định mức cụ thể. Để pháp luật được áp dụng thống nhất cần cụ thể hóa khoản tiền cấp dưỡng hoặc đưa ra các căn cứ để xác định khoản tiền bồi thường này./.

- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Tùy từng trường hợp ngoài việc buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, Tòa án quyết định người gây thiệt hại do hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm nhưng không vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

- Việc xác định tổn thất về tinh thần thường không có cơ sở, các tòa án thường dựa vào thực tế sự việc để quyết định nên thường mỗi tòa đưa ra một hướng giải quyết khác nhau. Nhiều thẩm phán cũng thừa nhận, việc tính tổn thất tinh thần trong từng vụ việc là khác nhau. Ví dụ như một nghệ sỹ bị đánh đến cụt tay, mù mắt không thể tiếp tục nghề nghiệp của mình thì dù có áp dụng đến mức tối đa bồi thường tổn thất cũng chưa tương xứng với những gì họ phải chịu đựng. Một bé gái bị hiếp dâm làm cho hoảng loạn đến phát điên thì bồi thường đến bao nhiêu cũng sẽ là không đủ... Do đó, quyết định ở mức nào, bao nhiêu do tòa án quyết định trên cơ sở các chứng cứ có được và sự công tâm của thẩm phán.

5. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Điều 623 Bộ luật dân sự quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

“1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”

Như vậy nếu tai nạn xẩy ra hoàn toàn do lỗi của bố bạn hoặc trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết thì bên gây tai nạn không phải bồi thường. Nếu không thuộc hai trường hợp trên thì sẽ được hưởng một mức bồi thường căn cứ vào mức độ lỗi của các bên. Nếu không đồng ý với mức bồi thường thì có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu tòa án giải quyết.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại.

1.Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”.

– Về mức bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số 03/ 2006/ NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của “Bộ luật dân sự năm 2015” về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Nếu có thắc mắc gì thêm, bạn có thể gọi điện cho Luật sư tư vấn pháp luật dân sự: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi về việc xử phạt đi sai làn đường khi rẽ ? Lỗi không bật đèn tín hiệu

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Xác định nguồn nguy hiểm cao độ?

Trả lời:

Mục 1 Phần III Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP quy định:

“1. Xác định nguồn nguy hiểm cao độ

a) Khi có phương tiện giao thông, công trình, vật chất hoặc loại thú nào đó gây ra thiệt hại, để có căn cứ áp dụng các khoản 2, 3 và 4 Điều 623 BLDS xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải xác định nguồn gây ra thiệt hại có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không.

b) Để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần phải căn cứ vào khoản 1 Điều 623 BLDS và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đó. Ví dụ: Để xác định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì phải căn cứ vào Luật Giao thông đường bộ. Theo quy định tại điểm 13 Điều 3 Luật giao thông đường bộ thì phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật.”

Như vậy khi xảy ra thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ thì cần xác định vật đó có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không dựa theo quy định tại Bộ luật dân sự và các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể như Luật an toàn giao thông đường bộ năm 2008, Luật điện lực năm 2005, Luật quản lý , sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2014….

Câu hỏi: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác?

Trả lời:

Nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản thông qua hai hình thức sau:

1. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động.Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ sau:

Thứ nhất: Người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động nhưng thiệt hại xảy ra không phải trong lúc người đó thực hiện nhiệm vụ mà người sử dụng lao động giao cho.

Thứ hai: Giữa người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận người lao động phải chịu mọi trách nhiệm khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ theo một giao dịch dân sự

Câu hỏi: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Trả lời:

Căn cứ vào điều 606 BLDS 2005 thì năng lực chịu trách nhiệm bồi thường bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra của cá nhân bao gồm:

Thứ nhất, người đủ từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải tự bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Bằng tài sản của chính mình.

Thứ hai, người từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Thứ ba, người dưới 15 tuổi là chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đó, theo đó cha mẹ của chủ thể có trách nhiệm bồi thường trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự trước tòa án. Nếu tài sản của cha, mẹ của người ở độ tuổi này mà không đủ tài sản để bồi thường mà người con chưa thành niên có tài sản riêng thì lấy tài sản của người con đó để bồi thường phần còn thiếu đó. Người trong độ tuổi này là chủ thể có trách nhiệm trong việc bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì không phải bồi thường mà trách nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ của người đó. Quy định này nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người bị thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.