- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Lưu ý khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
- 2.1. Quy định về sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
- 2.2. Bình luận quy định về sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
- 3. Thời giờ làm việc của người chưa thành niên
- 3.1. Quy định về thời giờ làm việc của người chưa thành niên
- 3.2. Bình luận quy định về thời giờ làm việc của người chưa thành niên
- 4. Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
- 4.1. Quy định pháp luật
- 4.2. Bình luận quy định pháp luật
Thưa luật sư, theo quy định của pháp luật hiện hành thì khi thuê người dưới 15 tuổi làm việc tôi cần lưu ý vấn đề pháp lý gì? Pháp luật quy định như thế nào về thời giờ làm việc cũng như những công việc nhất định mà được thuê lao động chưa thành niên làm không ạ? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Thành Vũ - Bắc Ninh
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH
2. Lưu ý khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
2.1. Quy định về sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
Điều 145 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về việc sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc như sau:
1. Khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:
a) Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;
c) Phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng;
d) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
2. Người sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật này.
3. Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết Điều này.
2.2. Bình luận quy định về sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
Nhìn chung, người chưa đủ 15 tuổi còn nhỏ, đang trong độ tuổi phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách. Họ chưa có đầy đủ khả năng để thực hiện được hầu hết các công việc theo yêu cầu chung xã hội, dễ bị ảnh hưởng của môi trường sống, lao động, học tập. Trong môi trường lao động có nhiều yếu tố tác động tích cực thì lao động chưa đủ mười lăm tuổi có thể phát triển tốt về thể chất, sức khỏe, nhân cách, nhưng nếu môi trường không tốt, có nhiều yếu tố tiêu cực thì thể chất, nhân cách của họ rất dễ chuyển biến theo hướng xấu. Bởi lẽ đối tượng này chưa có kinh nghiệm sống, chưa hiểu biết xã hội, chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân cũng như quyền và nghĩa vụ lao động của mình. Do đó, nếu có tham gia quan hệ lao động thì cơ bản thường là trong trường hợp lao động nghệ thuật, có năng khiếu hoặc do hoàn cảnh gia đình phải đi làm việc để kiếm tiền nuôi sống bản thân, gia đình.
Vì vậy, nhằm mục đích bảo vệ lao động này khi tham gia quan hệ lao động, pháp luật quy định người sử dụng lao động phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
- Hợp đồng lao động giữa các bên bắt buộc phải bằng văn bản. Mục đích là để ràng buộc các bên trong thực hiện quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận. Nhất là bên người lao động chưa đủ 15 tuổi trong việc thực hiện các nghĩa vụ lao động;
Người đại diện theo pháp luật của người chưa đủ 15 tuổi phải ký vào bản hợp đồng lao động. Mục đích là để người đại diện xác nhận sự đồng ý về nội dung hợp đồng lao động, bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ lao động của người được đại diện, đồng thời phải liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp người được đại diện vi phạm kỷ luật lao động làm thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động. Ví dụ: lao động chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động và không có tài sản riêng thì người đại diện phải bồi thường thiệt hại tài sản cho người sử dụng lao động.
Trước đây, bộ luật lao động cũ năm 2012 quy định người lao động dưới 15 tuổi không được ký vào bản hợp đồng lao động mà hợp đồng lao động chỉ được ký giữa người sử dụng lao động với người đại diện hợp pháp của người lao động và có sự đồng ý của người lao động. Quy định này không phù hợp, bởi lẽ người lao động là người trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ lao động, nếu không để ký vào bản hợp đồng lao động thì khó có cơ sở ràng buộc họ thực hiện nghĩa vụ lao động, đồng thời như vậy không đúng với bản chất của hợp đồng và không bảo đảm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động.
Quy định mới tại Điều 145 này đã khắc phục được bất cập trên và phù hợp hơn với thực tế sử dụng lao động cũng như thống nhất với các quy định khác của bộ luật, không chỉ bảo đảm quyền tự định đoạt của cá nhân người lao động mà còn nhằm ràng buộc trách nhiệm khi họ trở thành người lao động.
- Khi ký hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong sáu tháng. Mục đích là nhằm xác nhận người lao động dưới 15 tuổi đủ sức khỏe để làm việc, đồng thời bảo vệ một cách tốt nhất sức khỏe cho họ trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động.
- Thời giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi. Theo đó, thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 4 giờ trong một ngày và 20 giờ trong một tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Cùng với thời giờ làm việc, pháp luật quy định người sử dụng lao động, bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi của người lao động.
- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa đủ 15 tuổi làm công việc nhẹ. Theo đó công việc nhẹ cụ thể gồm những công việc gì hoàn toàn do nhà nước xác định và quy định.
Ngoài ra, trong một số trường hợp do yêu cầu riêng của công việc, pháp luật cho phép người sử dụng lao động được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc. Thông thường là các công việc liên quan đến năng khiếu và đòi hỏi phải được rèn luyện từ rất sớm như công việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao. Khi tuyển dụng và sử dụng lao động này, người sử dụng lao động, ngoài việc tuân theo các điều kiện như đối với người lao động dưới 15 tuổi nói chung ở trên, còn phải tuân thủ theo các quy định riêng như: không làm tổn hại đến sự phát triển trí lực, thể lực, nhân cách của họ và đặc biệt phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bởi, đối với người lao động dưới 13 tuổi, độ tuổi thực sự còn quá nhỏ để tham gia quan hệ lao động, do đó điều luật quy định các điều kiện chặt chẽ như vậy là hợp lý.
3. Thời giờ làm việc của người chưa thành niên
3.1. Quy định về thời giờ làm việc của người chưa thành niên
Điều 146 quy định về thời giờ làm việc của người chưa thành niên như sau:
1. Thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
2. Thời giờ làm việc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
3.2. Bình luận quy định về thời giờ làm việc của người chưa thành niên
Do lao động chưa thành niên hiểu biết xã hội, hiểu biết cuộc sống còn hạn chế, khả năng tự bảo vệ chưa cao, dễ bị bóc lột và lợi dụng, nên trong thực tế, nhiều chủ sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ, tổ hợp tác, cá nhân trong các làng nghề, cơ sở xây dựng, sử dụng lao động sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thủ công, đã kéo dài thời giờ làm việc trong ngày, thậm chí có trường hợp bóc lột tối đa sức lao động của lao động chưa thành niên từ 14 đến 15 giờ trong một ngày. Họ hầu như không được nghỉ ngơi, học tập, tham gia các hoạt động xã hội khác, từ đó làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần của lao động chưa thành niên.
Bởi vậy, để bảo vệ lao động chưa thành niên tham gia quan hệ lao động, ngoài quy định các công việc được sử dụng lao động, điều kiện tuyển dụng lao động chưa thành niên, các quyền lợi về việc làm, tiền lương, pháp luật còn đặc biệt quan tâm đến điều kiện lao động vệ sinh, an toàn và thời giờ làm việc. Theo đó, Điều 146 giới hạn cụ thể về thời giờ làm việc của người chưa thành niên nói chung, trong đó chủ yếu đối với lao động chưa thành niên khi tham gia quan hệ lao động.
Cụ thể, người sử dụng lao động phải bố trí thời giờ làm việc hợp lý, không được vượt quá mức trần thời gian làm việc do bộ luật lao động quy định. Đặc biệt, đối với người chưa đủ 15 tuổi, người sử dụng lao động không được bố trí họ làm việc quá 4 giờ trong một ngày, 20 trong một tuần, tức là bằng nửa thời giờ làm việc của người lao động thành niên làm công việc bình thường trong điều kiện bình thường. Mục đích là nhằm tạo điều kiện cho họ được nghỉ ngơi, dành thời gian để học tập và tham gia các hoạt động xã hội khác.
Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thời giờ làm việc không được quá 8 giờ trong một ngày và 40 giờ trong một tuần, đồng thời chỉ được làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường. Do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có sự phát triển tương đối về thể lực, sức khỏe và trí lực, lên để đáp ứng nhu cầu thu nhập của họ và nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp thủ công, vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay, họ có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào họ cũng được thỏa thuận làm thêm giờ phải làm việc vào ban đêm mà chỉ trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng bộ lao động thương binh và xã hội ban hành. Mục đích của quy định này là nhằm bảo đảm cho người lao động chưa thành niên phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần. Nếu người sử dụng lao động vi phạm các quy định về thời giờ làm việc đối với người lao động chưa thành niên thì bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định.
4. Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
4.1. Quy định pháp luật
Điều 147 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuooit đến chưa đủ 18 tuổi như sau:
1. Cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc sau đây:
a) Mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
b) Sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây nghiện khác;
c) Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
d) Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;
đ) Phá dỡ các công trình xây dựng;
e) Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
g) Lặn biển, đánh bắt thủy, hải sản xa bờ;
h) Công việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên.
2. Cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc ở các nơi sau đây:
a) Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
b) Công trường xây dựng;
c) Cơ sở giết mổ gia súc;
d) Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm hơi, cơ sở xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử;
đ) Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên.
3. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định danh mục tại điểm h khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều này.
4.2. Bình luận quy định pháp luật
Điều 147 liệt kê các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc. Đây là quy định rất cần thiết vì một mặt nhằm bảo vệ nghiêm ngặt người chưa thành niên, mặt khác để xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động và nhà nước đối với sự nghiệp chăm sóc, giáo dục, phát triển người chưa thành niên, thế hệ tương lai của đất nước.
Đối với các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đều là các công việc có các tư thế lao động không thuận lợi, gò bó, thiếu dưỡng khí; các công việc đòi hỏi sự rèn luyện sức khỏe, kỹ năng cao và nơi làm việc liên quan, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình hình thành nhân cách (sòng bạc, quán bar, vũ trường phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử); nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khỏe, gây bệnh tật nguy hiểm (có bệnh truyền nhiễm, đột biến gen; gây hậu quả xấu về đạo đức) đều thuộc danh mục cấm sử dụng người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên tại Điều 144 của bộ luật. Nếu người sử dụng lao động vi phạm thì có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý mà pháp luật quy định. Pháp luật lao động quốc tế và quy định của các quốc gia đều quan tâm đến việc bảo vệ lao động chưa thành niên thông qua việc xác định danh mục cấm sử dụng lao động chưa thanh niên, đồng thời có những hình thức xử phạt nghiêm khắc nếu người sử dụng lao động vi phạm quy định đó.
Tuy nhiên, theo ý kiến tác giả, Điều 147 không nên liệt kê các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Việc liệt kê sẽ không mang tính chất khái quát trong điều luật, hơn nữa dễ dẫn đến tình trạng thiếu hoặc sót. Vì thế, cũng như danh mục công việc nhẹ đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi, danh mục công việc được làm đối với người chưa đủ 13 tuổi, bộ luật nên quy định danh mục công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thay vì liệt kê như hiện nay.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập