Căn cứ theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Nghị định 91/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/8/2020 về chống tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác.

Quy định như sau:

Theo Điều 81 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP:

1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng các phương tiện giao tiếp trực tuyến trên mạng Internet, mạng viễn thông nhằm chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân có trị giá dưới 2.000.000 đồng.

2. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng;

b) Thiết lập hệ thống, cung cấp dịch vụ chuyển cuộc gọi quốc tế thành cuộc gọi trong nước phục vụ cho mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng;

c) Trộm cắp hoặc sử dụng hái phép thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt, gây thiệt hại tài sản hoặc để thanh toán hàng hóa, dịch vụ có trị giá dưới 2.000.000 đồng.

Khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP cũng quy định: Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm hành chính nêu trên là mức phạt đối với tổ chức, mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 lần mức phạt tiền đối với tổ chức.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật mới nhất về vấn đề trên như sau:

 

1. Sử dụng mạng internet để chiếm đoạt tài sản là gì?

Hiện nay với trình độ phát triển một cách chóng mặt của công nghệ thông tin và mạng viễn thông điện tử thì không ít các cá nhân, tổ chức đã lợi dụng vào sự phát triển của mạng internet để tiến hành những hành vi trái pháp luật. Một trong những hành vi đó là sử dụng mạng internet để tiến hành chiếm đoạt tài sản. Vậy thì sử dụng mạng internet để chiếm đoạt tài sản là hành vi của cá nhân tổ chức họ thông qua mạng internet để chiếm đoạt tài sản của cá nhân tổ chức khác. 

Hành vi này giống với hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản quy định tại điều 174 bộ luật hính sự 2015 tuy nhiên thì đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 là hành vi có yếu tố gian dối để chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình. Đây cũng là điểm giống của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 290 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên thì đối với hành vi quy định tại điều 290 có thêm chi tiết là sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. 

Như vậy thì đi đôi với sự phát triển của công nghệ và mạng viễn thông thì những hành vi lừa đảo ngày càng tinh vi và suất hiện phổ biến trong xã hội ngày nay. Không ít người đã trở thành nạn nhân của chiếm đoạt tài sản thông qua việc sử dụng mạng internet. 

 

2. Xử phạt đối với hành vi sử dụng mạng internet để chiếm đoạt tài sản. 

Đối với hành vi sử dụng mạng internet để chiếm đoạt tài sản thì đã được quy định rất cụ thể trong bộ luật hình sự 2015 và nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. 

Đầu tiên là điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung 2017 có quy định về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Theo đó thì người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi liệt kê dưới đây mà không thuộc các trường hợp quy định tại điều 173 và điều 174 của Bộ luật hình sự 2015 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 

- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hoàng hoá, dịch vụ. 

- Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ. 

- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản

- Tuy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản. 

- Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản.

- Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên thì sẽ phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với hành vi phạm tội mà thuộc các trường hợp như sau:

- Có tổ chức

- Phạm tội 02 lần trở lên

- Có tính chất chuyên nghiệp

- Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ

- Chiếm đoạt tài sản giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng

-Gây thiệt hai từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng

- Tái phạm nguy hiểm

Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với hành vi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

- Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

- Số lượng thẻ giả từ 200 đến dưới 500 thẻ

Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với hành vi phạm có các trường hợp như sau

- Chiếm đoạt tài sản giá trị 500.000.000 đồng trở lên

- Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên

- Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên. 

Bên cạng đó thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 

Ngoài ra thì tại nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử thì tại điều 81 có quy định về vi phạm quy định về sử dụng mạng nhằm chiếm đoạt tài sản. 

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng các phương tiện giao tiếp trực tuyến trên mạng internet, mạng viễn thông nhằm chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân có trị giá dưới 2.000.000 đồng. 

Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Truy cập bất hợp pháp vào tài sản của tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng

- Thiết lập hệ thống cung cấp dịch vụ chuyển cuộc gọi quốc tế thành cuộc gọi trong nước phục vụ cho mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng. 

- Trộm cắp hoặc sử dụng trái phép thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt, gây thiệt hại tài sản hoặc để thanh toán hàng hóa, dịch vụ có giá trị dưới 2.000.000 đồng 

Hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với vi phạm quy định tại khoản 2 điều 81

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điều này. 

Như vậy thì đối với hành vi sử dụng mạng internet để chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Bên cạnh đó thì các bạn có thể dựa vào những quy định tại điều 290 bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 và những quy định tại nghị định 15/2020/NĐ-CP 

Trên đây là toàn bộ những thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến vấn đề sử dụng mạng internet để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hi vọng rằng thông qua những thông tin mà chúng tôi cung cấp đã giúp các bạn hiểu hơn về việc sử dụng mạng internet để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra nếu các bạn còn có những câu hỏi thắc mắc thì có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài 19006162 để có thể được tư vấn hỗ trợ một cách nhanh chóng. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự theo dõi của quý khách hàng.