Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu đến công ty của chúng tôi, để giải đáp thắc mắc của bạn, bạn hãy cùng chúng tôi theo dõi các nội dung sau:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Thông qua Hiến pháp

Lịch sử lập hiến hơn 200 năm của nhân loại cho thấy có các cách thông qua Hiến pháp sau đây: Hiến pháp do Quốc hội thông qua, Hiến pháp được thông qua bằng cuộc trưng cầu ý dân, Hiến pháp do Nhà vua ban hành.

>> Xem thêm:  Quyền tư pháp là gì ? Quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Phần lớn các bản Hiến pháp hiện hành do Quốc hội / Nghị viện thông qua. Có hai loại Quốc hội: Quốc hội lập hiến và Quốc hội lập pháp.

Quốc hội lập hiến là Quốc hội được thành lập ra để thực hiện một nhiệm vụ duy nhất là soạn thảo và thông qua bản Hiến pháp. Thông thường các đại biểu Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quốc hội lập hiến chấm dứt hoạt động sau khi thông qua bản Hiến pháp. Ví dụ, Quốc hội lập hiến được thành lập ở Italia để thông qua Hiến pháp 1947, Năm 1946 Pháp thành lập Quốc hội lập hiến, Bồ Đào Nha -1975, Bungari - 1990, Rumani - 1991 v.v... Có trường hợp, sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội lập hiến không giải thể mà chuyển thành Quốc hội lập pháp như ở Hy Lạp năm 1975. Trong số Quốc hội lập hiến nói trên, có Quốc hội lập hiến được thành lập để soạn thảo Hiến pháp, sau đó dự thảo Hiến pháp được đưa ra cuộc trưng cầu ý dân để nhân dân thông qua (Quốc hội lập hiến của Italia năm 1947, Bồ Đào Nha năm 1975, Tây Ban Nha năm 1978, Rumani năm 1991), còn lại là các Quốc hội lập hiến vừa thực hiện nhiệm vụ soạn thảo đồng thời thông qua Hiến pháp. Quốc hội lập pháp là Quốc hội được thành lập không phải với nhiệm vụ duy nhất là soạn thảo, thông qua Hiến pháp mà ngoài nhiệm vụ này Quốc hội lập pháp còn thực hiện những nhiệm vụ khác.

Một phương pháp dân chủ nữa được áp dụng để thông qua Hiến pháp là trưng cầu ý dân. Theo phương pháp này trước tiên Hiến pháp được Quốc hội lập hiến hoặc Quốc hội lập pháp soạn thảo, thông qua, sau đó Hiến pháp được đưa ra phê chuẩn trên cuộc trưng cầu dân ý. Có trường hợp dự thảo Hiến pháp do Chính phủ soạn thảo, sau đó được đưa ra cuộc trưng cầu ý dân. Ví dụ, Hiến pháp năm 1958 của Pháp, Hiến pháp năm 1980 của Chilê.

Phương pháp thông qua hiến pháp kém dân chủ nhất là hiến pháp do Nhà vua ban hành. Những bản Hiến pháp ban hành theo phương pháp này còn được gọi là Hiến chương. Ví dụ, Hiến chương 1814 của Pháp, Hiến pháp Nhật Bản năm 1889, Hiến pháp Marốc năm 1911. Nhà vua ban hành Hiến pháp không phải do nguyện vọng cá nhân của mình mà do sức ép của cuộc đấu tranh của nhân dân lao động.

Trong những năm từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến giữa thập niên 70 của thế kỷ XX, trước áp lực của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, Chính quốc đã ban hành Hiêh pháp cho một số nước ở châu Á, châu Phi. Đây cũng được xem là phương pháp kém dân chủ.

2. Sửa đổi Hiến pháp

Việc sửa đổi Hiến pháp thường gắn với những thay đổi trong đời sống xã hội hoặc khi mối tương quan lực lượng chính trị thay đổi. Phương pháp thông dụng nhất đưa những sửa đổi vào Hiến pháp là thay thế những quy định cũ bằng những quy định mới hoặc bổ sung quy định mới hoặc bãi bỏ quy định cũ. Phương pháp này được đa số các nước trên thế giới áp dụng. Ưu điểm của phương pháp này là không đòi hỏi người áp dụng luật phải đối chiếu quy phạm mới với quy phạm cũ để xác định cái nào còn hiệu lực, cái nào đã hết hiệu lực. Phương pháp thứ hai là đưa những sửa đổi vào Hiến pháp mà không loại bỏ những điều khoản, quy định đã mất hiệu lực. Ưu điểm của phương pháp này là cho phép người áp dụng luật thường xuyên bao quát được tất cả các điều khoản, quy định của Hiến pháp trước và Hiến pháp hiện hành, điều này đôi khi cần thiết cho việc áp dụng và giải thích Hiến pháp cũng như cho công tác nghiên cứu.

Thủ tục sửa đổi Hiến pháp được các nước áp dụng theo các cách khác nhau, tuy nhiên có thể chia thủ tục sửa đổi Hiến pháp thành các giai đoạn sau: thực hiện quyền sáng kiến sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội/ ‘‘Nghị viện thông qua những điều sửa đổi, phê chuẩn những sửa đổi đó.

Đa số Hiến pháp trao quyền sáng kiến sửa đổi Hiến pháp, cho Quốc hội, Người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ và một số lượng nhất định các đại biểu Quốc hội. Ví dụ, theo Điều 235 Hiến pháp Ba Lan ít nhất 1/5 tổng số thành viên của Viện Xâyim, Thượng nghị viện, Tổng thống Ba Lan có quyền sáng kiến sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp Liên Bang Nga (Điều 134) trao quyền sáng kiến sửa đổi Hiêh pháp cho Tổng thống Liên bang, Hội đồng Liên bang, Đuma Quốc gia, Chính phủ Liên bang, cơ quan lập pháp của các chủ thể liên bang, ít nhất 1/5 tổng số đại biểu Hội đồng liên bang hoặc Đuma Quốc gia. Hiến pháp Tây Ban Nha (Điều 166 và đoạn 1,2 Điều 87) trao quyền này cho Chính phủ, Thượng nghị viện, Hạ nghị viện và cơ quan lập pháp của Vùng. Hiến pháp của Aixơlen chỉ trao quyền này cho Hạ nghị viện.

>> Xem thêm:  Lập hiến là gì ? Quy định pháp luật về lập hiến

Hiến pháp của một số nước còn trao quyền sáng kiến sửa đổi Hiến pháp cho một tập thể cử tri. Ví dụ, Điều 71 Hiến pháp Italia trao quyền này cho tập thể không ít hơn 50.000 cử tri. Ở Áo cứ 100.000 hoặc 1/6 tổng số cử tri của 3 bang có quyền sáng kiến sửa đổi Hiến pháp.

Nếu như đối với các đạo luật thường để Quốc hội thông qua chỉ cần quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì đối với sửa đổi Hiến pháp phải yêu cầu đa số tăng cường tổng số thành viên của Quốc hội (thông thường từ 2/3 trở lên). Đối với những nước Quốc hội gồm hai viện thì sửa đổi Hiến pháp phải được đa số tăng cường của tổng số thành viên của mỗi viện tán thành. Ví dụ, dự thảo sửa đổi Hiến pháp Nhật Bản được Nghị viện chấp thuận khi 2/3 tổng số thành viên của Hạ nghị viện và của Thượng nghị viện biểu quyết tán thành, dự thảo sửa đổi Hiến pháp Ba Lan được chấp thuận khi ít nhất 2/3 số đại biểu Viện Xâyim biểu quyết thông qua với điều kiện phiên họp có sự tham gia của ít nhất là 50% tổng số đại biểu của viện và khi đa số tuyệt đối thành viên Thượng nghị viện biểu quyết tán thành với điều kiện phiên họp có sự tham gia của ít nhất là 50% tổng số thành viên của Thượng nghị viện. Ở Liên bang Nga, Quốc hội Liên bang chỉ được quyền sửa đổi các chương từ 3 đến 8 và việc sửa đổi phải được sự tán thành của 2/3 tổng số thành viên của Đuma Quốc gia và 3/4 tổng số thành viên của Hội đồng liên bang. Việc sửa đổi Hiến pháp Mỹ phải được sự tán thành của 2/3 tổng số thành viên của Hạ nghị viện và của Thượng nghị viện Mỹ.

Giai đoạn tiếp theo của thủ tục sửa đổi Hiến pháp là phê chuẩn. Theo Điều 89 Hiến pháp Cộng hòa Pháp, sau khi Nghị viện Pháp thông qua các điều sửa đổi Hiến pháp, Tổng thống Pháp triệu tập cuộc họp với sự tham dự của các thành viên của cả hai viện để phê chuẩn những sửa đổi đó. Ở Hy Lạp sửa đổi Hiến pháp phải được thông qua bởi hai khóa liên tiếp của Viện đại biểu (Quốc hội), khóa trước thông qua, khóa sau phê chuẩn. Các sửa đổi Hiến pháp Liên bang Nga sau khi được Quốc hội liên bang thông qua phải được sự phê chuẩn của 2/3 tổng số cơ quan lập pháp của chủ thể liên bang mới có hiệu lực. Ở Mỹ những sửa đổi Hiến pháp đòi hỏi sự phê chuẩn của 3/4 số cơ quan lập pháp của các tiểu bang.

Hiến pháp của một số nước còn quy định điều kiện để sửa đổi Hiến pháp. Ví dụ, Điều 139 Hiến pháp Italia quy định chính thể Cộng hòa không thể là đối tượng sửa đổi. Điều 89 Hiến pháp Bồ Đào Nha liệt kê 15 điểm không thể là đối tượng sửa đổi, trong số đó có chính thể Cộng hòa, nguyên tắc phân chia quyền lực, các nguyên tắc bầu cử phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín v.v... Đoạn 1 Điều 135 Hiến pháp Liên bang Nga quy định, các điều khoản của chương 1, 2, 9 Hiến pháp liên bang không thể bị sửa đổi bởi Quốc hội Liên bang. Một số Hiến pháp còn quy định quãng thời gian nhất định được phép tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Ví dụ, Hiến pháp Hy Lạp năm 1975 (sửa đổi năm 1985) quy định việc sửa đổi hiến pháp chỉ được tiến hành sau 5 năm kể từ khi kết thúc thủ tục sửa đổi lần trước.

3. Hủy bỏ Hiến pháp

Thông thường Hiến pháp bị hủy bỏ khi trong nước diễn ra cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ. Tuy nhiên Hiến pháp mới ban hành thường giữ lại một số điều, chương của Hiến pháp cũ với điều kiện những chương, điều này không trái với mục đích của chế độ mới. Hiến pháp cũng có thể bị hủy bỏ trong trường hợp đất nước có biến động sâu sắc về chính trị, kinh tế, xã hội. Ví dụ, khi Liên bang Nga chuyển sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa đồng thời chế độ xã hôi, chính trị cũng có sự thay đổi sâu sắc thì Hiến pháp 1978 (sửa đổi vào những năm 1989, 1990, 1991) không còn phù hợp riữa. Điều này dẫn đến việc ban hành Hiến pháp mới, Hiến pháp 1993.

4. Một vài mốc phát triển về lịch sử lập hiến của Hoa Kỳ

4.1 Bản tuyên ngôn độc lập năm 1776

Năm 1776 nước Mỹ giành được độc lập, chấm dứt hoàn toàn đô hộ của của bọn thực dân Anh. Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã được long trọng công bố vào .ngày 4/7/1776. Bản tuyên ngôn gồm 3 phần

>> Xem thêm:  Hợp hiến là gì ? Khái niệm hợp hiến được hiểu như thế nào ?

Bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 có ý nghĩa chính trị - pháp lý vô cùng quan trọng. Nó chính thức khai sinh ra hợp chủng quốc Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia hoàn toàn độc lập. Nền độc lập này là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của lịch sử lập hiến Hoa Kỳ.

4.2 Bản Hiến pháp đầu tiên của Hoa Kỳ năm 1787

Ngày 17 tháng 9 năm 1787 Hội nghị lập hiến đã thông qua được bản hiến pháp đầu tiên của nước Mỹ và đây cũng là bản hiến pháp đẩu tiên của nhân loại. Hiến pháp 1787 của nước Mỹ bao gồm 7 Điều, mỗi điều gồm nhiều khoản mỗi khoản gỏm nhiều mục. Điều 1 gồm 10 khoản quy định về Quốc hội cơ quan lập pháp, Điều 2 gồm 4 khoản quy định về chính quyền hành pháp mà Tổng thống là người đứng đầu, Điều 3 gồm 3 khoản quy định về hệ thống tòa án cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Điều 4 gồm 4 khoản, quy định về Vị trí của các bang trong mối quan hệ với nhau và với nhà nước liên bang. Điều 5 quy định về thủ tục sửa đổi hiến pháp. Điều 6 ghi nhận nguyên tắc ưu tiên của hiến pháp liên bang và điều ước quốc tế do Nhà nước liên bang ký kết so với hiến pháp và luật của các bang. Điều 7 quy định về hiệu lực của Hiến pháp. Các Điều 5,6,7 đều ngắn và không chia thành các khoản.

Đặc điểm nổi bật của lịch sử lập hiến Hoa Kỳ là chỉ có một bản Hiến pháp nguyên thủy tổn tại từ năm 1787 đến nay. Tuy nhiên, đến thời điểm này đã có tới 27 lần tu chính án hiến pháp do Quốc hội thông qua và được các cơ quan lập pháp của các tiểu bang phê chuẩn theo quy định tại Điều 5 của Hiến pháp nguyên thủy.

Điều đáng chú ý là trong Hiến pháp nguyên thủy 1787 không có chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nên 10 Điều tu chính án đầu tiên được Quốc hội thông qua vào năm 1791 là 10 Điều quy định vệ địa vị pháp lý của công dân Hoa Kỳ. 10 Điều tu chính án đầu tiên này là những bổ sung đặc biệt quan trọng làm cho hiến pháp Hoa Kỳ từ chỗ không hoàn thiện hướng đến hoàn thiện và đảm bảo cho sự tổn tại lâu dài của Hiến pháp:

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư pháp là gì ? Khái niệm tư pháp được hiểu như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về hiến pháp các nước ?

Câu hỏi: Luật Hiến pháp có các chế định sau đây?

Trả lời:

 Luật Hiến pháp có các chế định sau đây: Nghị viện, Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, Tòa án, Các cơ quan chính quyền địa phương, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân...

Câu hỏi: Quy phạm pháp luật hiến pháp được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Quy phạm pháp luật hiến pháp là những quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh những quan hệ xã hội. 

Câu hỏi: Quy phạm pháp luật hiến pháp điều chỉnh những gì?

Trả lời:

Quy phạm pháp luật hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng trong nhiều lĩnh vực.