CƠ SỞ PHÁP LÝ:

Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010;

Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật bảo vệ mội trường;

NỘI DUNG TƯ VẤN:

Trên thực tế hiện nay, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà khi sử dụng có gây ô nhiễm, tuy nhiên với mức độ tác động đến môi trường là khác nhau. Nếu đánh thuế trên tất cả thì có rất nhiều sản phẩm, hàng hóa phải đưa vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện tại và đây là lần đầu tiên Luật Thuế bảo vệ môi trường được ban hành nên chỉ chọn lựa một số sản phẩm gây ô nhiễm nhiều, có thể quản lý thu thuế được, đảm bảo tính khả thi của luật để đưa vào đối tượng chịu thuế. Mặc dù đối tượng chịu thuế giới hạn trong 5 nhóm sản phẩm, hàng hóa nhưng mỗi khi một chính sách mới được đưa ra đều có tác động tích cực là đạt được những mục tiêu mong muốn và cả những tác động không mong muốn. Qua đó ta có thể thấy được những tác động của thuế bảo vệ môi trường tới hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường:

1. Tăng cường trách nhiệm và nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường

Cơ sở kinh tế ban hành thuế bảo vệ môi trường là sự cần thiết khách quan của việc đưa chi phí “gây ô nhiễm môi trường” (các yếu tố ngoại ứng) và giá bán của hàng hóa. Trước đây khi chưa có thuế bảo vệ môi trường, chi phí này không được tính trong gia hàng hóa. Thuế bảo vệ môi trường sẽ giúp thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải chi trả”. Buộc các chủ thể gây ô nhiễm và các liên đới phải chịu trách nhiệm về chi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ bằng cách đưa chi phí ngoại ứng vào giá.

Ô nhiễm tại các trạm năng lượng dùng than là một trong những nguyên nhân gây ra các trận mưa a xít hủy hoại đất đai, rau quả, nguồn nước, các công trình xây dựng ở nhiều nơi, cả những nơi mà người dân không hưởng lợi trực tiếp từ trạm năng lượng này. Do không bao gồm những “chi phí ngoại ứng” nên giá bán điện đã phản ánh sai lệch chi phí và tạo ra những thông tin không chính xác. Từ đó, khuyến khích sản xuất năng lượng vượt quá mức hiệu quả đối với nền kinh tế nói chung. Cần phải làm ngược lại, phải đưa đầy đủ các yếu tố chi phí xã hội vào giá bán điện cũng như giá cả hàng hóa, dịch vụ.

Khi giá bán hàng hóa, dịch vụ chưa bao gồm đầy đủ chi phí xã hội, thì những đánh giá của thị trường sẽ méo mó, không chính xác, tạo cơ hội trục lợi cho cá nhân và doanh nghiệp. Chi phí xã hội dành cho khôi phục, khắc phục , chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường thường rất lớn chiếm tỷ lệ nhất định so với tổng GDP hàng năm. Tính được chính xác giá trị bằng tiền của các yếu tố ngoại ứng (là 3% hay 5% GDP) là điều không đơn giản. Các nước EU dành khoảng 4,2% GDP để giải quyết các chi phí ngoại ứng trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Theo nhiều dự báo, khoản chi này có xu hướng ngày càng tăng lên.

Thuế bảo vệ môi trường sẽ đưa chi phí ngoại ứng vào giá “nội hóa các chi phí ngoại ứng”, nhờ đó chi phí xã hội và chi phí cá nhân của các nhà sản xuất tiến gần nhau hơn. Các mức giá trở lên chính xác hơn, do đã bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết. Từ đó, tạo cơ hội thúc đẩy các hoạt động có hiệu quả hơn đối với các khu vực thị trường, giao thông hoặc năng lượng. Nội hóa các chi phí ngoại ứng cũng sẽ dẫn đến phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế theo hướng tạo ra các “mức giá công bằng và hiệu quả hơn” do phân phối lại chi phí.

Thuế bảo vệ môi trường còn góp phần thực hiện các mục tiêu khác về môi trường như khuyến khích các hành vi “sạch hơn”, khuyến khích thực hiện các cuộc “cách mạng” thân thiện với môi trường và góp phần tăng thu ngân sách.

2. Khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường hơn

Thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá sản phẩm, hàng hóa. Từ đó có thể sử dụng thuế để kích thích và điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường. Đối với cả người tiêu dùng (muốn mua với giá thấp hơn) và nhà sản xuất (bán được nhiều sản phẩm hơn, lợi nhuận cao hơn) thì thuế bảo vệ môi trường sẽ có tác dụng khuyến khích, điều chỉnh định hướng sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường hơn.

Tuy nhiên, giá cả chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động đến hành vi của nền kinh tế. Thành công của thuế bảo vệ môi trường trong việc điều chỉnh hành vi kinh tế còn phụ thuộc vào từng thị trường cụ thể, đối với từng đối tượng đánh thuế. Nếu không có biện pháp hữu ích nào khả dĩ có thể giúp giảm lượng tiêu thụ năng lượng hóa thạch để thay thế, thì việc áp dụng biện pháp tăng giá năng lượng thông qua thuế bảo vệ môi trường sẽ đem lại hiệu quả rất ít nếu không muốn nói là không đem lại kết quả gì trong nỗ lực thay đổi hành vi tiêu dùng năng lượng hóa thạch của các tác nhân trong nền kinh tế.

Tương tự, nếu không kết hợp việc tạo ra các sản phẩm đủ sức cạnh tranh, thay thế, tin cậy và an toàn khác (như giao thông công công, xe đạp…), nếu chỉ áp dụng riêng lẻ thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá xăng dầu thì hiệu quả điều chỉnh hành vi sử dụng ô tô xe máy là rất thấp. Sự thất bại trong nỗ lực thay đổi hành vi do tiến hành thay đổi giá trong các trường hợp “cầu không co dãn” là rất rõ. Không thể quá hy vọng sử dụng công cụ thuế trong trường hợp này.

Trong các trường hợp như vậy, hoặc phải áp dụng thuế rất cao, hoặc phải sử dụng các biện pháp khác như hỗ trợ sử dụng hiệu quả năng lượng, nâng cao chất lượng, tiện nghi, đa dạng hóa giao thông công cộng thì mới có thể làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng. Vai trò của Nhà nước là rất rõ nét và quan trọng. Điều này giải thích tại sao thuế bảo vệ môi trường sẽ phát huy hiệu quả nhất khi chính sách thuế đồng bộ trong các chính sách khác chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường.

Giảm ô nhiễm môi trường là mục đích chính của những nỗ lực làm thay đổi hành vi. Thuế là công cụ đem lại hiệu quả nhất về chi phí trong việc giảm ô nhiễm môi trường so với việc ban hành các quy định hành chính khác. Nghĩa vụ đóng thuế tạo động cơ thúc đẩy người gây ô nhiễm tìm phương pháp giảm ô nhiễm mới. Đây là ưu điểm của thuế và là một trong những lý do khiến công cụ thuế cho phép giảm chi phí quản lý ô nhiễm, khuyến khích các cuộc cách mạng về bảo vệ môi trường.

3. Thúc đẩy cải cách đổi mới công nghệ

Nếu đánh thuế bảo vệ môi trường mà giá nhiên liệu tăng thì điều này sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới.

Rõ ràng thuế bảo vệ môi trường có thể giúp chuyển dịch nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá sản phẩm tự nhiên. Thuế bảo vệ môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng. Đặc biệt, khi các dấu hiệu về giá được dự báo dần dần vượt qua mức giá dự kiến trong kế hoạch dài hạn của nền công nghiệp.

4. Tác động về mặt xã hội

Thu thuế bảo vệ môi trường sẽ góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường. Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu dùng sản phẩm (xăng, dầu, than…). Từ đó, tiết kiệm cá nhân, tiết kiệm xã hội, giảm ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý ô nhiễm. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các cá nhân, tổ chức; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường.

5. Tác động về mặt môi trường

Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực đến môi trường (khí Cacbon, lưu huỳnh thải ra khi sử dụng xăng, dầu, than, HCFC ảnh hưởng tới môi trường không khí và tầng ôzôn, tăng hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, gây hiệu quả nghiêm trọng đối với con người và thiên nhiên cũng như tổn thất về kinh tế). Từ đó, hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

6. Tăng nguồn vốn đầu tư cải tạo môi trường

Với khung thuế quy định tại Luật, số thu thuế bảo vệ môi trường thu sẽ tăng. Đây là nguồn thu đáng kể, nhằm đầu tư cải tạo môi trường.

Luật thuế bảo vệ môi trường là công cụ quan trọng, cùng với hệ thống các công cụ khác: Giáo dục, đầu tư, hành chính,… nhằm thực hiện được các mục tiêu bảo vệ môi trường tại Việt Nam.

Tóm lại, Bảo vệ môi trường là mục tiêu to lớn, cơ bản và lâu dài của mọi quốc gia. Để bảo vệ môi trường có thể sử dụng các chính sách, công cụ khác nhau, trong đó, chính sách thuế được coi là một chính sách kinh tế rất quan trọng điều chỉnh các chủ thể trong nền kinh tế, xã hội, các hoạt động trong lĩnh vực môi trường, từ đó, có tác động trực tiếp đến bảo vệ môi trường của một quốc gia. Chính sách thuế bảo vệ môi trường là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, điều hoà các quan hệ lợi ích giữa xã hội và doanh nghiệp, từ đó, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê