1. Hiểu như thế nào về các tác phẩm khuyết danh?
Hiện nay, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2023 Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, có quy định tác phẩm khuyết danh là tác phẩm không có hoặc chưa có tên tác giả, có thể là tên khai sinh hoặc bút danh trên tác phẩm khi công bố.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện nay, tác phẩm khuyết danh được hiểu là các tác phẩm khi công bố không có hoặc chưa có tên tác giả. Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khác khi tác phẩm được công bố, sử dụng trên tác phẩm là quyền nhân thân quan trọng và không được phép chuyển dịch trong quyền tác giả. Pháp luật có quy địch chỉ có tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả trong một số trường hợp nhất định mới có quyền được đứng tên trên tác phẩm. Tuy nhiên, do một số lý do nhất định mà khi công bố tác phẩm, không có tên của tác giả người đã sáng tạo ra tác phẩm. Trong những trường hợp này, pháp luật quy định các tác phẩm trên là các tác phẩm khuyết danh. Và xuất phát từ những đặc điểm riêng, pháp luật có quy định riêng đối với cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm khuyết danh có một số điểm khác biệt so với các tác phẩm khác.
2.Tác phẩm khuyết danh có được xem là thuộc về công chúng hay không?
Hiện nay, về chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 41 và Điều 42 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022, cụ thể:
Theo quy định tại khoản Điều 41 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022, tổ chức cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định. Theo đó, trong trường hợp, các tác phẩm khuyết danh được thuộc quyền quản lý của các tổ chức, cá nhân thì các tổ chức, ca nhân này được hưởng quyền của chủ sở hữu quyền tác giả cho đến khi danh tính của tác giả được xác định.
Bên cạnh đó, Điều 42 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022 có quy định, Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức đang quản lý tác phẩm khuyết danh. Theo đó, trong trường hợp tác phẩm khuyết danh không thuộc diện quàn lý của các cá nhân, tổ chức nào thì chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh đó được xác định là nhà nước. Có thể khẳng định, nhà nước chỉ được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết dang khi tác phẩm khuyết danh đó không do cá nhân hay tổ chức nào quản lý.
Tác phẩm khuyết danh chỉ thuộc về công chúng khi tác phẩm kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo quy định của tác phẩm, cụ thể tại Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022 có quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh như sau:
- Đối với các quyền nhân thân, cụ thể là quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm được công bố, sử dụng; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả, thời gian bảo hộ đối với quyền này là vô thời hạn. Nghĩa là các quyền này được bảo hộ vô thời hạn theo quy định của pháp luật.
- Đối với các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm, pháp luật quy định thời gian bảo hộ đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 50 năm tính từ thời điển tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn năm mươi năm kể từ khi tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn bảo hộ được tính từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả được xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm kể từ thời điểm sau khi tác giả chết, nếu tác phẩm có các đồng tác giả thì thời gian bảo hộ chấm dứt tại thời điểm năm mươi năm sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.
Như vậy, theo quy định của pháp luật khi kết thúc thời gian bảo hộ theo quy định trên của Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022 thì tác phẩm khuyết danh sẽ thuộc về công chúng.
3. Quy định của pháp luật hiện hành về chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với các tác phẩm khuyết danh
Hiện nay, pháp luật có một số quy định riêng về việc bảo hộ các tác phẩm khuyết danh, trong số đó có các uy định về việc chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với các tác phẩm khuyết danh. Hiện nay pháp luật quy định chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện dưới hai dạng, chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan và chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan.
-Về quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm khuyết danh. Theo quy định chung về chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên liên, đây được hiểu là việc chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền được phép luật quy định cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan. Như vậy, đối với tác phẩm khuyết danh, chủ sở hữu được xác định là cá nhân, tổ chức quản lý quyền tác giả hoặc trong trường hợp tác phẩm khuyết danh không có cá nhân, tổ chức thì chủ sở hữu quyền tác giả được xác định trong trường hợp này là Nhà nước. Do đó, các chủ thể này hoàn toàn có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan cho cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản, trong đó các đầy đủ các nội dung về tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng; các căn cứ chuyển nhượng; các nội dung về giá, phương thức thanh toán; các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên; và quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. (Căn cứ khoản 1 Điều 46 Luật sơ hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022).
- Về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm phái sinh. Việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan được hiểu chung là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền mà pháp luật quy định. Trong trường hợp tác phẩm phái sinh, cũng giống như việc chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm khuyết danh thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan. Như vậy đối với các tác phẩm khuyết danh, cá nhân, tổ chức đang quản lý tác phẩm khuyết danh đó có quyền chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan; trong trường hợp không có cá nhân, tổ chức nào đang quản lý tác phẩm khuyết danh, quyền sở hữu quyền tác giả thuộc về Nhà nước và trong trường hợp này. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản với đầy đủ các nội dung sau: tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền; nội dung căn cứ chuyển quyền; các nội dung về phạm vi chuyển quyền; nội dung về giá, phương thức thanh toán; các nội dung về quyền và nghĩa vụ do vi phạm hợp đồng; các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.(Căn cứ khoản 1 Điều 48 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2022)
Trên đây là một số vấn đề liên quan đến câu hỏi tác phẩm khuyết danh có thuộc về công chúng? Để hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan có thể tham khảo bài viết: Những tác phẩm nào được đăng ký bảo hộ quyền tác giả?
Mọi thắc mắc liên quan liên hệ 19006162 hoặc emali lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết.
Trân trọng