- 1. Tai nạn giao thông nhưng không biết ai đúng ai sai thì phải bồi thường như thế nào?
- 2. Chạy quá tốc độ gây tai nạn giao thông và làm chết người ?
- 3. Tư vấn về việc bị tai nạn giao thông trên đường đi làm ?
- 4. Tư vấn về trách nhiệm của người gây tai nạn giao thông có hậu quả nghiêm trọng ?
- 5. Tư vấn về đòi quyền lợi khi xảy ra tai nạn giao thông ?
1. Tai nạn giao thông nhưng không biết ai đúng ai sai thì phải bồi thường như thế nào?
Trả lời:
Bạn nói chồng bạn lái xe tải đã va chạm vào người đi xe gắn máy và hậu quả là người đi xe gắn máy thiệt mạng.Và chồng bạn đa tận tình đưa người bị nạn đi cấp cứu thăm hỏi đồng thời trình báo công an. Và sau khi đo đạc hiện trường công an không biết là lỗi của ai, và chồng bạn thì cũng không vi phạm về quy định người tham gia giao thông. Trong trường hợp này thì chồng bạn vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật dân sự.
Theo Điều 591. Bộ luật Dân sự năm 2015
"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."
Theo quy định pháp luật:
Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.
a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.
Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.
b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.
- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Gia đình nạn nhân có đòi tiền cấp dưỡng cho 3 cháu con của nạn nhân 1 cháu 7 tuổi ,1 cháu 4 tuổi ,1 cháu 2 tuổi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi ?
Yêu cầu này của gia đình nạn nhân là đúng
Trong trường hợp cụ thể của bạn, người bị thiệt hại có nghĩa vụ nuôi dưỡng với 3 người con chưa thành niên - chưa đủ 18 tuổi, do đó, 3 người con chưa thành niên của người bị thiệt hại là đối tượng được hưởng khoản tiền cấp dưỡng từ chồng của bạn
Chúng tôi không thể xác định cho bạn được mức cấp dưỡng mà chồng của bạn sẽ phải thực hiện với 3 người con chưa thành niên của người bị thiệt hại, bởi mức cấp dưỡng được xác định trên cơ sở là khả năng của chồng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Bản chất của cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Do đó, việc chồng của bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng không phải là thay người bị thiệt hại nuôi dưỡng con của họ, mà chỉ là việc đóng góp tiền bạc cùng những người trực tiếp nuôi dưỡng những người con chưa thành niên này mà thôi.
Khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường (tức là chồng của bạn), nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường. Chồng của bạn phải đáp ứng được nhu cầu sống thiết yếu của anh ấy rồi sau đó mới thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Tiền bồi thường tinh thần tổng số tiền là 600 triệu nhưng do không biết ai đúng ai sai nên gia đình em phải chịu một nửa là 300 triệu?
Theo khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 thì tiền bồi thường sẽ do gia đình bạn và gia đình người bị thiệt hại thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì số tiền bồi thường tinh thần cho gia đình người bị thiệt hại không quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.
>> Xem ngay: Tư vấn xử lý trường hợp xe container gây tai nạn giao thông ?
2. Chạy quá tốc độ gây tai nạn giao thông và làm chết người ?
>> Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường thiệt hại gọi : 1900.6162
Trả lời:
- Bộ luật dân sự 2015 quy định:
"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."
Các khoản bồi thường bao gồm:
"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."
Theo đó, mức bồi thường do hai bên thoả thuận. Nếu không thể thoả thuận được thì tối đa là 36 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
- Trong trường hợp bên bị hại khởi kiện, cơ quan điều tra sẽ làm rõ vụ việc. Mặc dù bạn có lỗi là chạy xe quá tốc độ, tuy nhiên người bị hại cũng có lỗi. Bạn cũng đã có trách nhiệm cứu chữa, trả viện phí, mai táng, do đó cũng sẽ được giảm nhẹ tội danh. Bạn có thể chỉ bị xử phạt hành chính hoặc cải tạo không giam giữ. Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:
“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
3. Tư vấn về việc bị tai nạn giao thông trên đường đi làm ?

Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Tai nạn lao động được định nghĩa Cụ thể:
"Điều 3. Tai nạn lao động
1.Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, bao gồm:a) Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;b) Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sự phân công của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động uỷ quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;c) Tai nạn lao động xảy ra đối với người lao động khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở cho phép (nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, cho con bú, tắm rửa, đi vệ sinh).2. Những trường hợp tai nạn được coi là tai nạn lao động xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý, bao gồm:a) Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở;b) Tai nạn xảy ra cho người lao động Việt Nam trong khi thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài do người sử dụng lao động giao (tham dự hội nghị, hội thảo, học tập ngắn hạn, nghiên cứu thực tế).
Như vậy, trường hợp của bạn là tai nạn lao trên đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc, bạn đi đúng giờ và đúng cung đường nên trường hợp của bạn được xem là tai nạn lao động
>> Xem ngay: Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ?
4. Tư vấn về trách nhiệm của người gây tai nạn giao thông có hậu quả nghiêm trọng ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.V.B
Trả lời:
Điều 601 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."
Như vậy, trong trường hợp này người gây ra vụ tai nạn giao thông phải bồi thường thiệt hại vì người đó đang điều khiển phương tiện giao thông vận tải thuộc trường hợp quy định tại Điều 601.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.
Như vậy, pháp luật không quy định cụ thể mức bồi thường tối đa theo thỏa thuận hay Tòa án quy định là bao nhiêu, mà chỉ quy định mức bồi thường phải được dựa trên các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của người bị thiệt hại.
Căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, trong trường hợp này nếu người bị tai nạn được giám định có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên thì người gây tại nạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Khoản 1 Điều 260 và sẽ bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.
>> Tham khảo ngay: Xin tư vấn về tai nạn giao thông gây chấn thương sọ não
5. Tư vấn về đòi quyền lợi khi xảy ra tai nạn giao thông ?
- Giờ gia đình tôi muốn đưa đơn ra Tòa án thì phải cần những giấy tờ gì và bao lâu thì Tòa sẽ giải quyết?
- Bên gây ra tai nạn phải đền bù những chi phí gì cho chị tôi? Chị tôi tai nạn phải điều trị ở bệnh viện hết khoảng 40 triệu (chưa tính tiền sinh hoạt và những khoản nhỏ lẻ khác tại bệnh viện). 1 ngày 1 đêm đầu tiên phải có 4 người trông chị tôi, sau khi xuất viện bác sĩ bảo khoảng hai năm sau chị tôi mới bình phục được. Chị tôi làm tiếp thị lương tháng từ khoảng 4.5 triệu đến 5.5 triệu/tháng. Chị tôi còn có hai người con nhỏ nữa. Hiện tại chị tôi chưa có giám định tỉ lệ thương tật nhưng mà theo tôi chấn thương sọ não hôn mê gần 1 tháng cũng được coi là nghiêm trọng. Vậy trong trường hợp này thanh niên kia có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trân trọng cảm ơn!
Người gửi: B.S

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi 1900.6162
Trả lời:
Thông tin mà bạn cung cấp là chưa có mức thương tật cụ thể nên chúng tôi chưa thể kết luận là thanh niên kia sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ.
Ngoài ra người thanh niên đó còn có trách nhiệm bồi thường cho chị gái bạn theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
"Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."
Trong trường hợp có kết luận của cơ quan công an về việc chị bạn cũng có lỗi thì theo quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 có quy định;
"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra."
Do đó trong trường hợp này người đó chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.
Trong tường hợp này gia đình bạn có thể làm đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự gửi tới cơ quan điều tra cơ quan công an cấp huyện để được giải quyết.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh KHuê