1. Hình thức sở hữu tài sản của các thành viên hợp tác

Bản chất của hợp đồng hợp tác là sự liên kết của các thành viên hợp tác cùng thực hiện một công việc. Để thực hiện công việc này, mỗi thành viên có thể thỏa thuận đóng góp một phần tài sản và cùng tạo lập khối tài sản chung theo phần của các thành viên. Tài sản đóng góp có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản.

- Cơ sở hình thành tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác: Việc đóng góp tài sản chung trên cơ sở thỏa thuận của các bên chủ thể. Tài sản chung của các chủ thể được hình thành trên cơ sở đóng góp, cùng tạo lập và các nguồn khác như được tặng cho chung hoặc thừa kế chung. Điều 506 Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức sở hữu của các thành viên hợp tác với tài sản chung là hình thức sở hữu chung theo phần.

- Hậu quả pháp lý đối với việc chậm góp tiền: Riêng đối với đóng góp tài sản chung là tiền, thành viên hợp tác chậm góp sẽ phát sinh trách nhiệm trả lãi đối với phần tiền chậm trả được quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Bên cạnh đó, việc chậm đóng góp gây thiệt hại tới các thành viên hợp tác khác thì chủ thể này có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại sẽ theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp các bên không đạt được sự thỏa thuận thì bồi thường theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại.

- Định đoạt tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất và các tài sản khác: Đối với các tài sản chung này, pháp luật yêu cầu phải có sự thống nhất ý chí của tất cả thành viên và được thể hiện bằng văn bản.

Đối với các tài sản khác, việc định đoạt sẽ do đại diện các thành viên quyết định trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của người đại diện được quy định trong hợp đồng hợp tác hoặc theo thỏa thuận khác của các thành viên hợp tác.

- Nguyên tắc phân chia tài sản chung trước khi hợp đồng hợp tác chấm dứt: về nguyên tắc, hợp đồng hợp tác chưa kết thúc thì các bên chưa phân chia tài sản chung. Do đó, tài sản chung chỉ được phân chia khi các thành viên hợp tác cùng thống nhất ý chí, có thỏa thuận cho phép phân chia.

- Mối liên hệ giữa phân chia tài sản chung với quyền, nghĩa vụ của các thành viên hợp tác: Trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác, theo thỏa thuận của các bên thì tài sản chung có thể được phân chia. Tuy nhiên, việc phân chia tài sản chung không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các thành viên trong hợp đồng hợp tác. Do đó, các thành viên vẫn phải tuân thủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo nội dung hợp đồng mình đã thỏa thuận.

Các quy định về tài sản chung của các thành viên hợp tác được quy định tại Điều 506 Bộ luật dân sự 2015 là cơ sở pháp lý đế các thành viên hợp tác thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung của mình. Đây cũng là cơ sở để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong trường hợp phân chia tài sản chung. Đồng thời, nêu các thành viên hợp tác phát sinh tranh chấp về phân chia tài sản chung thì đây cũng là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp này trong trường hợp nội dung hợp đồng hợp tác không có thỏa thuận.

>> Xem thêm:  Mẫu thư mời hợp tác kinh doanh mới nhất năm 2021

2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác

Tham gia vào hợp đồng hợp tác thì các thành viên hợp tác sẽ có các quyền, nghĩa vụ nhất định. Quyền, nghĩa vụ của các thành viên được xác định trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì quyền, nghĩa vụ được xác định theo quy định tại Điều 507 Bộ luật dân sự 2015 với các nội dung cơ bản sau:

Điều 507. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác

1. Được hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động hợp tác.

2. Tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng hợp tác, giám sát hoạt động hợp tác.

3. Bồi thường thiệt hại cho các thành viên hợp tác khác do lỗi của mình gây ra.

4. Thực hiện quyền, nghĩa vụ khác theo hợp đồng.

- Quyền được hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động hợp tác: Việc hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động hợp tác phải tuân thủ theo quy định ghi nhận trong hợp đồng hợp tác. Thông thường việc phân chia hoa lợi, lợi tức dựa trên số lượng tài sản đóng góp và công sức bỏ ra của mỗi thành viên. Việc hưởng hoa lợi có thể được nhận trực tiếp bằng hiện vật hoặc được chia bằng tiền.

- Quyền tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng hợp tác, giám sát hoạt động hợp tác: Thực hiện hợp đồng hợp tác là một quá trình do chính các thành viên hợp tác tự mình thực hiện hoặc giao cho người thứ ba thực hiện. Do đó, quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác có thể phát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi các thành viên hợp tác phải trực tiếp tham gia quyết định hoặc giám sát để kịp thời đưa ra quyết định. Việc tham gia quyết định hoặc giám sát hoạt động hợp tác là một quyền cơ bản của thành viên hợp tác nhằm bảo vệ quyền lợi của chính chủ thể này, đặc biệt nhằm bảo toàn khối tài sản chung của các thành viên hợp tác.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các thành viên hợp tác do lỗi của mình gây ra: Khi tham gia hợp đồng hợp tác, thành viên hợp tác có thể gây thiệt hại cho các thành viên khác bằng hành vi có lỗi của mình. Do đó, thành viên hợp tác nào gây thiệt hại cho các thành viên còn lại đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với giá trị thiệt hại và mức độ lỗi của mình.

- Nghĩa vụ thực hiện các quyền, nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng hợp tác: Các thành viên phải tuân thủ đầy đủ các quyền nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng hợp tác đã được giao kết.

3. Xác lập thực hiện giao dịch dân sự

Quy định về xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác được pháp luật ghi nhận tại Điều 508 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 508. Xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

1. Trường hợp các thành viên hợp tác cử người đại diện thì người này là người đại diện trong xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Trường hợp các thành viên hợp tác không cử ra người đại diện thì các thành viên hợp tác phải cùng tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Giao dịch dân sự do chủ thể quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này xác lập, thực hiện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của tất cả thành viên hợp tác.

Nhóm các thành viên hợp tác không có tư cách pháp nhân, không hình thành nên một tổ chức kinh tế. Do vậy, khi tham gia vào các giao dịch thì các thành viên hợp tác có thể cử người đại diện. Việc cử người đại diện theo ủy quyền có thể lập thành văn bản hoặc có thể biểu quyết theo quy định của pháp luật về đại diện. Trong trường hợp có người đại diện theo ủy quyền thì khi xác lập giao dịch, các thành viên hợp tác thực hiện thông qua người đại diện theo ủy quyền của mình. Giao dịch được xác lập bởi người đại diện theo ủy quyền làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ đối với các thành viên hợp tác.

Trong trường hợp các thành viên hợp tác không có người đại diện thì giao dịch phải được xác lập với tất cả thành viên. Giao dịch sau khi được xác lập làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các thành viên hợp tác.

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng hợp tác kinh doanh góp vốn bằng quyền sử dụng đất mới nhất năm 2021

4. Trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác

Trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác, dưới sự chi phối bởi nhiều yếu tố dẫn đến có thể có hành vi phạm nghĩa vụ làm phát sinh trách nhiệm dân sự với người thứ ba. Trong trường hợp phát sinh trách nhiệm dân sự với người thứ ba, pháp luật quy định về thực hiện trách nhiệm tại Điều 509 Bộ luật dân sự 2015:

- Trách nhiệm dân sự được thực hiện bằng tài sản chung: Khối tài sản chung do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập hoặc được thừa kế, tặng cho chung không chỉ là nguồn tài sản phục vụ cho thực hiện công việc hợp tác mà còn là nguồn tài sản dùng để chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại cho bên thứ ba.

- Trường hợp tài sản chung không đủ thực hiện trách nhiệm thì các thành viên phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng tương ứng với phần đóng góp của mình: Do nhóm các thành viên hợp tác không phải là một tổ chức kinh tế nên trách nhiệm của các thành viên là trách nhiệm vô hạn. Trường hợp hoạt động hợp tác gây thiệt hại cho người thứ ba thì sau khi sử dụng khối tài sản chung để bồi thường thiệt hại mà không đủ thì các thành viên hợp tác có trách nhiệm đóng góp bằng tài sản riêng tương ứng với tỉ lệ đóng góp tài sản của mình vào khối tài sản hợp tác chung. Điều luật này không ghi nhận trách nhiệm liên đới giữa các thành viên trong hợp đồng hợp tác.

5. Gia nhập, rút khỏi hợp đồng hợp tác

- Gia nhập hợp đồng hợp tác:

Trong hợp đồng hợp tác, các thành viên có thể thỏa thuận về điều kiện ra nhập hợp đồng hợp tác. Nếu cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định trong hợp đồng hợp tác thì trở thành thành viên mới của hợp đồng hợp tác. Trường hợp, trong hợp đồng hợp tác không quy định về điều kiện ra nhập hợp đồng khi có hơn một nửa tổng số thành viên đồng ý thì người có nhu cầu tham gia hợp đồng hợp tác sẽ là thành viên của nhóm hợp tác.

Số lượng thành viên đồng ý của theo quy định tại Điều 511 Bộ luật dân sự 2015 được hiểu là “50% + 1 ”, tức là đảm bảo điều kiện được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác. Với những hợp đồng hợp tác chỉ có hai thành viên thì phải có sự đồng ý của cả hai thành viên thì người có nhu cầu mới được gia nhập hợp đồng hợp tác.

- Rút khỏi hợp đồng hợp tác:

Khi xác lập hợp đồng hợp tác, các thành viên có thể thỏa thuận về điều kiện để thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác. Khi một thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác thì nhóm hợp tác vẫn tồn tại và tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng hợp tác. Việc rút khỏi hợp đồng hợp tác tuân thủ theo quy định tại Điều 510 Bộ luật dân sự 2015:

+ Theo các điều kiện đã thống nhất và ghi nhận trong hợp đồng hợp tác: Đây là các điều kiện được các thành viên hợp tác dự liệu từ thời điểm đàm phán, giao kết hợp đồng hợp tác. Khi các thành viên gặp vào các điều kiện đã dự liệu thì các thành viên có quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác.

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng hợp tác kinh doanh mới nhất năm 2021

+ Có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa số thành viên hợp tác: Lý do chính đáng là một vấn đề mang tính chất tương đối và được xác định trong từng trường hợp cụ thể. Lý do chính đáng có thể là các lý do về sức khỏe, nơi cư trú hoặc lầm vào tình trạng phá sản... Lý do chính đáng phải chi phối trực tiếp đến khả năng tiếp tục tham gia vào hợp đồng hợp tác của thành viên đó. Xuất phát từ lý do chính đáng đó, thành viên hợp tác chỉ được rút sau khi được hơn một nửa số thành viên hợp tác đồng ý.

Thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác có quyền yêu cầu nhận lại tài sản góp ban đầu hoặc phần tài sản đã đóng góp, có quyền yêu cầu phân chia tài sản trong khối tài sản chung. Mặt khác, thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác phải thanh toán các nghĩa vụ theo phần của nhóm hợp tác đã xác lập. Người rút khỏi hợp đồng hợp tác đã xác lập các quyền và nghĩa vụ đối với chủ thể khác thì các thành viên còn lại tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.

Trường hợp thành viên tự rút khỏi hợp đồng hợp tác là vi phạm hợp đồng hợp tác, cho nên phải chịu trách nhiệm dân sự theo hợp đồng hợp tác và phải chịu các trách nhiệm dân sự khác theo quy định của Bộ luật dân sự và luật liên quan.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định pháp lý về hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC ? Cách soạn hợp đồng hợp tác kinh doanh ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tài sản góp vốn của các thành viên hợp tác có thể là gì?

Trả lời:

Tài sản đóng góp có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản. 

Câu hỏi: Định đoạt tài sản chung của các thành viên hợp tác được quy định như thế nào?

Trả lời:

Việc định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên; việc định đoạt tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Câu hỏi: Thành viên hợp tác được rút khỏi hợp đồng hợp tác trong trường hợp nào?

Trả lời:

Thành viên có quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác trong trường hợp sau đây:

a) Theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác;

b) Có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác.