1. Khái quát các giai đoạn pháp điển hóa
Pháp điển hóa là một quá trình phức tạp, tôn nhiều thời gian, công sức. Quá trình này bắt đầu từ khi xác định cấp độ và cấu trúc của bộ pháp điển (trong đó quan trọng nhất là hình thành các chủ đề của bộ pháp điển) cho đêh khi lắp ghép, sắp xếp các quy phạm pháp luật vào cấu trúc của bộ pháp điển và duy trì, cập nhật bộ pháp điển đó.
Ở Việt Nam, trong điều kiện hệ thống pháp luật còn "ngổn ngang", phức tạp thì việc pháp điển hóa cần được tiến hành theo hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng ban đầu và giai đoạn duy trì, cập nhật bộ pháp điển. Đây cũng là kinh nghiệm được nhiều nước trên thế giới áp dụng khi bắt đầu tiến hành pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật.
2. Giao đoạn xây dựng ban đầu bộ pháp điển
Bước thứ nhất: Tập hợp, rà soát, phân loại các quy phạm pháp luật
Bước hai: Bước thứ hai: Xây dựng cấu trúc của chủ để trong bộ pháp điển và "làm sạch" các quy phạm pháp luật được pháp điển
Bước thứ ba: Tiên hành pháp điển hóa:
- Công đoạn pháp điển hóa các điều khoản cụ thể
Bước thứ tư: Cơ quan ban hành văn bản ký xác thực kết quả pháp điển hóa
Bước thứ năm: Thẩm định kết quả xây dựng chủ đề của bộ pháp điển
Bước thứ sáu: Thông qua chủ đề của bộ pháp điển
Bước thứ bảy: Công bố bộ pháp điển:
3. Giai đoạn duy trì, cập nhật bộ pháp điển
Ở nước ta, văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung. Bộ pháp điên dù được hoàn thiện đến đâu nhưng nếu không được duy trì, cập nhật thường xuyên thì sẽ nhanh chóng bị lỗi thời và mất giá trị. Vì vậy, sau khi giai đoạn 1 kết thúc phải xác lập ngay cơ chế duy trì, cập nhật bộ pháp điển. Theo đó, bộ pháp điển sẽ được duy trì, cập nhật thường xuyên những quy phạm pháp luật được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các quy phạm đã có trong bộ pháp điển bởi cơ quan pháp điển quốc gia. Điều này có nghĩa rằng, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn thực hiện việc ban hành văn bản theo đúng trình tự, thủ tục của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhưng ngay trong văn bản đó phải chỉ rõ những sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy phạm nào trong phẩn, chương, chủ đề nào của bộ pháp điển. Căn cứ vào đó, cơ quan pháp điển quốc gia sẽ bổ sung, thay thế các điều khoản trong bộ pháp điển bằng các quy định mới do cơ quan ban hành văn bản ban hành. Với cơ chế này, bộ pháp điển sẽ trở thành nguồn tập trung, duy nhất đáng tin cậy của tất cả các quy định pháp luật trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quy trình cập nhật quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế bãi bỏ vào bộ pháp điển được thực hiện như sau:
- Cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật gửi đồng thời văn bản đến Công báo và cơ quan pháp điển quốc gia;
- Cơ quan pháp điển quốc gia căn cứ vào những chỉ dẫn về sửa đổi, bổ sung, thay thế bãi bỏ các quy phạm pháp luật trong các điều, mục, chương của chủ đề của bộ pháp điển tiến hành sắp xếp, kết nối các quy phạm pháp luật có sự thay đổi theo đúng chỉ dẫn về vị trí của từng quy phạm trong văn bản gốc.
Như vậy, so sánh với quá trình pháp điển hóa ở giai đoạn 1 có thể thấy rằng, việc pháp điển ở giai đoạn này đơn giản hơn rất nhiều. Bởi vì, việc pháp điển không phải do nhiều cơ quan tiến hành với quy mô lớn mà chỉ do cơ quan pháp điển thực hiện. Các quy phạm pháp luật được đưa vào bộ pháp điển không bị làm thay đổi ý nghĩa hoặc giá trị pháp lý mà chỉ đơn thuần là việc lắp ghép kỹ thuật vào đúng vị trí đã được chỉ dẫn. Việc pháp điển trong giai đoạn này chỉ đơn thuần nhằm duy trì cấu trúc có tổ chức của bộ pháp điển và bảo đảm bộ pháp điển có chứa toàn bộ các quy phạm pháp luật hiện hành. Những người có nhu cầu tìm văn bản thay vì tìm kiếm các văn bản khác nhau trong nhiều số Công báo khác nhau sẽ sử dụng bộ pháp điển để lấy các quy phạm pháp luật được sắp xếp một cách có tổ chức và theo các lĩnh vực cụ thể. Đổng thời, giai đoạn này cũng không có cơ quan nào phê duyệt, thông qua sản phẩm pháp điển hóa nữa mà việc bảo đảm về nội dung do chính cơ quan ban hành đảm nhiệm; cơ quan pháp điển hóa chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc cập nhật văn bản. Trường hợp có ý kiến về tính chính xác trong quy phạm của bộ pháp điển thì văn bản gốc sẽ được viện dẫn đến để giải quyết.
Vì được duy trì theo phương thức nói trên nên bộ pháp điển sẽ kế thừa được các thành quả của công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản mà Việt Nam đã và đang tiến hành. Việc hệ thống hóa mà Việt Nam đang thực hiện là cần thiết, nhưng do các văn bản pháp luật được ban hành thường xuyên, ngay cả trong lúc văn bản đang được hệ thống hóa, nên tại thời điểm việc hệ thống hóa hoàn thành, kết quả hệ thống hóa đã lập tức bị lỗi thời do thiếu các văn bản mới được ban hành. Bộ pháp điển sẽ không gặp phải tình trạng này, vì việc hệ thống hóa (nhằm tập hợp toàn bộ các quy định có hiệu lực trong một cấu trúc hợp lý) đã được hoàn thành dứt điểm khi kết thúc giai đoạn xây dựng ban đầu. Bộ pháp điển khi hoàn thành vào cuối giai đoạn 1 chính là toàn bộ các quy định hiện hành của Việt Nam đã được hệ thống hóa một cách toàn diện.
4. Các nguyên tắc thực hiện pháp điển
Nguyên tắc là những điều cơ bản được định ra, nhất thiết phải thực hiện, tuân thủ. Việc xây dựng Bộ pháp điển của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là việc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền do đó cần thực hiện theo những nguyên tắc nhất định để bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ, chính xác. Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật năm 2012, việc thực hiện pháp điển phải tuân thủ 04 nguyên tắc sau:
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện pháp điển
1. Không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển.
2. Theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp.
3. Cập nhật quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển.
4. Tuân thủ thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện pháp điển.
5. Phân tích các nguyên tắc thực hiện pháp điển
- Nguyên tắc một, không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển. Như vậy, nội dung các quy phạm pháp luật của văn bản đưa vào Bộ pháp điển được giữ nguyên mà không được chỉnh sửa. Không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được pháp điển hay nói cách khác là tính chính xác, đầy đủ của các quy phạm pháp luật trong đề mục là nội dung quan trọng nhất để Hội đồng thẩm định xem xét việc thông qua kết quả pháp điển của mỗi đề mục. Nội dung các quy phạm pháp luật ở đây là nội dung toàn văn của điều được sắp xếp vào đề mục bao gồm cả số, tên và nội dung quy định được chứa đựng.
- Nguyên tắc thứ hai, theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp. Những quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn sẽ được sắp xếp trước quy định trong văn bản có giá trị pháp lý thấp hợp. Theo quy định của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP thì đơn vị nhỏ nhất của văn bản được bóc tách ra để pháp điển vào Bộ pháp điển là theo điều. Như vậy, các điều quy định về cùng một nội dung khi đưa vào Bộ pháp điển cần được sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật từ cao xuống thấp.
Tuy nhiên, trong một đề mục, trừ văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất thì các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có thể có nhiều văn bản cùng giá trị hiệu lực pháp lý. Trường hợp các điều này thuộc các văn bản quy phạm pháp luật có cùng cấp hiệu lực thì được sắp xếp theo trật tự thời gian ban hành của văn bản.
- Nguyên tắc thứ ba, cập nhật quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển. Các quy phạm pháp luật trong Bộ pháp điển khi được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế thì các cơ quan thực hiện pháp điển có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp để kịp thời cập nhật quy phạm pháp luật mới được ban hành vào Bộ pháp điển và loại bỏ quy phạm pháp luật hết hiệu lực khỏi Bộ pháp điển. Bộ pháp điển là tập hợp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực áp dụng, do đó việc kịp thời loại bỏ các quy định hết hiệu lực và cập nhật các quy phạm pháp luật mới ban hành là rất quan trọng. Cơ quan thực hiện pháp điển thực hiện cập nhật quy phạm pháp luật mới chậm nhất là 20 ngày, trước ngày quy phạm pháp luật mới ban hành có hiệu lực.
Ngoài ra, trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành chưa thuộc đề mục đã có trong Bộ pháp điển, cơ quan có thẩm quyền theo Điều 4 Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật đề xuất tên đề mục, vị trí của đề mục gửi Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung đề mục và phân công cơ quan thực hiện theo quy định.\
- Nguyên tắc thứ tư: tuân thủ thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện pháp điển. Việc thực hiện pháp điển các quy phạm pháp luật phải được bảo đảm đúng theo quy định của Pháp lệnh pháp điển và Nghị định số 63/2013/NĐ-CP về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan thực hiện pháp điển cũng như trình tự, thủ tục thực hiện pháp điển. Đây cũng là 1 trong các nội dung chính để Hội đồng thẩm định xem xét thông qua kết quả pháp điển theo đề mục.
Tuy nhiên, một số quy định về thủ tục hành chính khi triển khai thực hiện pháp điển có thể gây trậm trễ, phức tạp, lãng phí trong quá trình thực hiện pháp điển cần được rút gọn hoặc đơn giản hóa như thủ tục ký xác thực kết quả pháp điển. Theo quy định hiện nay, để hoàn thành 01 đề mục trình Chính phủ thông qua thì các cơ quan thực hiện pháp điển phải ký xác thực và đóng dấu ít nhất 02 lần. Có trường hợp phải ký xác thực, đóng dấu nhiều hơn - thậm chí 4,5 lần (mỗi lần ký xác thực và đóng dấu có thể là một hoặc nhiều cơ quan có trách nhiệm ký và đóng dấu nên rất phức tạp, mất nhiều thời gian)