1. Một số vướng mắc về bị cáo trong tố tụng hình sự

Vướng mắc: Trong trường hợp bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về 01 tội danh. Khi đến phiên xét xử, Tòa án lại xét xử các hành vi đã bị truy tố nhưng với 02 tội danh khác nhau. Câu hỏi đặt ra là liệu việc xét xử theo 02 tội danh khác nhau có vi phạm quy định về giời hạn của việc xét xử hay không?

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, khi Viện kiểm soát truy tố bị cáo về 01 tội danh và Tòa án xét xử thấy có các hành vi khác liên quan, Tòa án sẽ trả hồ sơ về Viện kiểm sát để tiến hành điều tra bổ sung. Nếu Viện kiểm sát quyết định vấn giữ truy tố, Tòa án sẽ tiến hành xét xử vụ án. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án chỉ xét xử hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Với tình huống nêu trên, việc Tòa án xét xử bị cáo với 02 tội danh khác nhau có thể bị coi là vi phạm quy định của Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, vì Tòa án chỉ được xét xử theo tội danh đã được Viện kiểm sát truy tố, không được mở rộng sang tội danh khác mà Viện kiểm sát không truy tố. Tuy nhiên, để có cái nhìn chính xác hơn và đánh giá rõ hơn về tình huống này, cần xem xét thêm về các quy định cụ thể và tình tiết liên quan trong pháp luật.

Vướng mắc: Trong trường hợp bị cáo là đồng phạm trong một vụ án và trong giai đoạn xét xử bị cáo đã chết, vấn đề phát sinh liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Trong tình huống này, có 02 trường hợp xảy ra:

- Khi có thể giải quyết trong cùng một vụ án hình sự: Tòa án sẽ đưa người thừa kế tài sản của bị cáo vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, người thừa kế sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự.

- Khi không thể giải quyết trong cùng một vụ án hình sự: Tòa án sẽ buộc các đồng phạm còn lại có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại. Quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự sẽ được áp dụng, và Tòa án sẽ tách vụ án dân sự để giải quyết nghĩa vụ bồi thường giữa các bị cáo còn lại và người thừa kế của bị cáo. Thủ tục tố tụng dân sự sẽ được áp dụng trong trường hợp này.

Như vậy, cách giải quyết phụ thuộc vào khả năng giải quyết trong cùng một vụ án hình sự hay không, và quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và tố tụng dân sự sẽ được áp dụng tương ứng.

Vướng mắc: Trong vụ án hình sự, bị cáo thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì có được miễn án phí hình sự không?

Trong vụ án hình sự, có một vấn đề liên quan đến việc án phí, đặc biệt là việc miễn án phí hình sự cho bị cáo. Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án là yếu tố quan trọng trong việc xác định việc miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Điều 12 nêu ra các trường hợp được miễn án phí hình sự, và khi bị cáo thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, thì bị cáo cũng được miễn án phí hình sự. Cụ thể, nếu bị cáo thuộc các trường hợp được quy định trong Chương quy định chung của Nghị quyết này, thì họ có quyền được miễn án phí hình sự.

Việc miễn án phí hình sự dựa trên quy định tại Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 giúp đảm bảo quyền lợi của bị cáo trong việc tham gia tố tụng hình sự và truy cứu công lý một cách hợp lý.

2. Vướng mắc về bị can trong tố tụng hình sự

Vướng mắc: Trong một vụ án hình sự có nhiều bị can, mỗi bị can bị truy tố theo các khoản khác nhau của cùng một điều luật hoặc bị truy tố theo các tội danh khác nhau, xuất hiện một vấn đề về thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử. Câu hỏi đặt ra là liệu thời hạn tạm giam của các bị can, bị cáo nên tính theo thời hạn tạm giam dài nhất hay tính theo thời hạn tạm giam tương ứng với từng loại tội phạm.

Trước đây, vấn đề này đã được hướng dẫn trong Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 20204 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, liên quan đến việc xét xử sơ thẩm theo phần thứ ba của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Rà soát đã cho thấy rằng, nội dung hướng dẫn trong Nghị quyết này vẫn phù hợp với quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Do đó, trong trường hợp vụ án có nhiều bị can bị truy tố về nhiều tội phạm khác nhau, thời hạn tạm giam đối với từng bị can không nên vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm nghiêm trọng nhất mà bị can đó bị truy tố. Điều này đảm bảo rằng việc tạm giam được thực hiện hợp lý và công bằng, không gây ảnh hưởng không cần thiết đến quyền tự do của bị can trong thời gian chờ xét xử. 

Vướng mắc: Trong trường hợp một bị can hoặc bị cáo đang chấp hành hình phạt tù trong vụ án khác và Tòa án yêu cầu trích xuất họ để phục vụ yêu cầu xét xử trong vụ án khác, câu hỏi đặt ra là liệu Tòa án còn cần phải bổ sung Quyết định tạm giam đối với phạm nhân đang chấp hành án tù trong thời gian trích xuất hay không.

Trường hợp này đã được hướng dẫn trong Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao, theo đó, đối với bị can hoặc bị cáo đang thi hành án hình phạt tù trong vụ án trước đó, Tòa án sẽ không ra quyết định tạm giam mà chỉ ra quyết định trích xuất để phục vụ công tác xét xử trong vụ án mới. Nguyên nhân là vì không có căn cứ tạm giam theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Mặt khác, Thông tư liên tịch 01/2020/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 17/6/2020 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã quy định về phối hợp trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. Trong trường hợp này, khi được trích xuất theo Lệnh/ Quyết định trích xuất, không cần phải ra Quyết định tạm giam.

Tóm lại, trong tình huống này, Tòa án không cần phải bổ sung Quyết định tạm giam đối với phạm nhân đang chấp hành án tù khi yêu cầu trích xuất để phục vụ xét xử vụ án khác, theo các quy định và hướng dẫn của pháp luật.

3. Vướng mắc về bị hại trong tố tụng hình sự

Vướng mắc: Trong vụ án hình sự, tại phiên tòa lần đầu, có trường hợp bị hại nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt, và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng nộp đơn đề nghị vắng mặt và hoãn phiên tòa. Câu hỏi đặt ra là liệu Tòa án sẽ tiếp tục xét xử hay hoãn phiên tòa trong trường hợp này.

Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rằng, đối với trường hợp vắng mặt của bị hại, Tòa án có thể xem xét hoãn phiên tòa hoặc tiếp tục xét xử. Tuy nhiên, về việc vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định cụ thể. Trong tình huống này, Tòa án sẽ vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

Nếu việc vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại ảnh hưởng đến quyết định giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có thể căn cứ vào Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự để hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không. Nếu có yêu cầu, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định về việc hoãn phiên tòa.

Tóm lại, trong trường hợp này, Tòa án sẽ tiếp tục xét xử vụ án nếu không có căn cứ cụ thể để hoãn phiên tòa liên quan đến vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Tuy nhiên, nếu tình huống gây ảnh hưởng đến quyết định giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có thể quyết định về việc hoãn phiên tòa dựa trên quy định tại Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự.

4. Vướng mắc khi áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Vướng mắc: Trong vụ án hình sự, có trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm muốn sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn về phần án phí hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không đúng. Căn cứ ở đâu để sửa nội dung này?

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền điều chỉnh bản án sơ thẩm nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho bị cáo trong việc xem xét về phần án phí và cũng có thể áp dụng lại các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự một cách đúng đắn. Tuy khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định rõ về việc sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp này, nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể vận dụng quy định tại Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự để sửa các nội dung này của bản án sơ thẩm.

Cụ thể, Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm, trong đó một phần liên quan đến việc sửa các nội dung trong bản án sơ thẩm để có án hình phạt thích hợp với tình tiết và trách nhiệm hình sự của bị cáo. Khi Hội đồng xét xử phúc thẩm muốn sửa bản án sơ thẩm để cải thiện án phí hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không đúng, họ có thể dựa vào quy định này.

Tuy nhiên, trong quá trình sửa đổi bản án, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần căn cứ cả vào Điều 345 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự để đảm bảo tính hợp lệ và phù hợp của quyết định sửa đổi. Mục tiêu là đảm bảo công lý và đồng thời đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình xét xử phúc thẩm và thay đổi bản án sơ thẩm.

Xem thêm: Tóa án tối cao giải đáp một số vướng mắc về chia thừa kế

Luật Minh Khuê sẽ giải đáp thắc mắc nhanh chóng qua tổng đài 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn ./.