Tăng trưởng kinh tế (economic growth) là sự gia tăng của sản lượng tiềm năng theo thời gian của một nền kinh tế. Khả năng thực sự của nền kinh tế trong việc sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn phụ thuộc vào:
Sự gia tăng số lượng và chất lượng hàng đầu tư của nó (tích luỹ vốn)
Sự gia tăng số lượng và chất lượng lực lượng lao động của nó.
Sự gia tăng số lượng và chất Lượng tài nguyên thiên nhiên của nó.
Sự sử dụng có hiệu quả các đầu vào nhân tố này sao cho tối đa hoá được phần đóng góp của chúng vào quá trình mở rộng sản lượng do năng suất tăng lên.
Phát triển và áp dụng vào sản xuất các kỹ thuật và sản phẩm mới (tiến bộ kỹ thuật).
Việc nền kinh tế có tận dụng được tiềm năng phát triển của nó hay không còn phụ thuộc vào một Yếu tố nữa là:
Mức tổng cầu. Tổng cầu cần đủ cao để đảm bảo sử dụng hết năng lực sản xuất tăng thêm của nền kinh tế.
Việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao là một trong 5 mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô. Tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế thể hiện ở phần đóng góp của nó đối với sự thịnh vượng chung của cộng đồng. Mọi người đều muốn có tăng trưởng là vì nó tạo điều kiện cho cộng đồng tiêu dùng nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn. Ngoài ra, tăng trưởng đóng góp vào việc cung cấp số lượng lớn hơn hàng hoá và dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục,...), qua đó cải thiện mức sống thực tế.
Tăng trưởng kinh tế thường được tính bằng mức tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo thời gian (bảng 10) hoặc mức tăng GDP đầu người theo thời gian. Chỉ tiêu sau gắn mức tăng tổng sản lượng với những thay đổi về dân số. Bởi vậy, nếu tổng sản lượng chỉ tăng nhanh hơn một chút so với mức tăng dân số, mức sống bình quân chỉ được cải thiện không đáng kể.
Mức tăng bình quân hàng năm tính bằng phần trăm
Nhật
4,4
Mỹ
3.0
Tây Đức
2,2
Anh
2,5
Bảng 10. Tăng trưởng kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước của Nhật, Mỹ, Tây Đức và Anh từ 1974 đến 1985.