- 1. Tranh chấp lao động cá nhân là gì?
- 2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
- 2.1. Trình tự, thủ tục hoà giải tranh chấp lao động cá nhân của hoà giải viên lao động
- 2.2. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động
- 2.3. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án
Căn cứ vào Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
* Hòa giải viên lao động.
* Hội đồng trọng tài lao động.
* Tòa án nhân dân.
Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 200), thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung Hội đồng trọng tài lao động. Theo Bộ luật Lao động năm 2019, Hội đồng trọng tài lao động sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn quy định pháp luật hiện nay về vấn đề này như sau:
1. Tranh chấp lao động cá nhân là gì?
Khoản 1 Điều 179 Bộ luật lao động 2019 quy định về khái niệm tranh chấp lao động như sau:
Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
Tranh chấp lao động bao gồm các loại tranh chấp sau:
- Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;
- Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.
2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Điều 187 Bộ luật lao động 2019 quy định về Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
- Hoà giải viên lao động;
- Hội đồng trọng tài lao động;
- Toà án nhân dân
2.1. Trình tự, thủ tục hoà giải tranh chấp lao động cá nhân của hoà giải viên lao động
Điều 188 Bộ luật lao động 2019 quy định về Trình tự, thủ tục hoà giải tranh chấp lao động cá nhân của hoà giải viên lao động như sau:
- Về loại tranh chấp lao động cá nhân: Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hoà giải của hoà giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hoà giải:
+ Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động'
+ Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
+ Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
- Về thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hoà giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181 của Bộ luật này, hoà giải viên lao động phải kết thúc việc hoà giải.
- Về thành phần tham gia phiên họp hoà giải: Tại phiên họp hoà giải phải có mặt của hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên hợp hoà giải.
- Về trách nhiệm của hoà giải viên: Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.
+ Trường hợp các bên thoả thuận được, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành. Biên bản hoà giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp về hoà giải viên lao động.
+ Trường hợp các bên không thoả thuận được, hoà giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hoà giải thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành. Biên bản hoà giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hoà giải viên lao động.
+ Trường hợp phương án hoà giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành. Biên bản hoà giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.
+ Bản sao biên bản hoà giải thành hoăc hoà giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
- Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thoả thuận trong biên bản hoà giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết.
- Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hoà giải quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc trường hợp hết thời hạn hoà giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải hoặc trường hợp hoà giải không thành theo quy định tại khoản 4 Điều này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:
+ Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;
+ Yêu cầu Toà án giải quyết.
- Thời hiệu yêu cầu hoà giải viên lao động thực hiện hoà giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2.2. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động
Điều 189 Bộ luật lao động 2019 quy định về Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động như sau:
- Trên cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp trong trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 188 Bộ luật này. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài loa động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Toà án giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.
- Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
- Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
- Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2.3. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án
Khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 2 Điệu 219 Bộ luật lao động 2019 quy định những tranh chấp lao động cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm:
- Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hoà giải của hoà giải viên lao động mà hoà giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoà giải không thành hoặc hết thời hạn hoà giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hoà giải:
+ Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
+ Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
+ Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
- Tranh chấp lao động cá nhân mà hai bên thoả thuận lựa chọn Hội đồng trọng tại lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
- Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Lưu ý: Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả háng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê cung cấp cho Quý bạn đọc các vấn đề pháp lý liên quan đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân. Trường hợp Quý bạn đọc có bất kỳ vướng mắc pháp lý nào cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Chúng tôi qua số tổng đài 19006162 để được đội ngũ Chuyên viên phòng Hỗ trợ khách hàng hỗ trợ tư vấn và hướng dẫn triển khai dịch vụ nhanh chóng nhất. Trân trọng./.