1. Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng

Khoản 18 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017):

"Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận".

Quan hệ bảo lãnh ngân hàng gồm 03 bên: tổ chức tín dụng, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Hoạt động bảo lãnh ngân hàng được tiến hành bởi các bên chủ thể đặc biệt và chuyên nghiệp - các tổ chức tín dụng. Bảo lãnh ngân hàng có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, có 03 chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh ngân hàng và mối quan hệ của 03 chủ thể như sau:

- Mối quan hệ giữa bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) và bên có quyền (bên nhận bảo lãnh): mối quan hệ này sẽ làm xuất hiện nghĩa vụ cần bảo đảm và cam kết về nghĩa vụ cần bảo đảm (hay còn gọi là quan hệ hợp đồng gốc).

- Mối quan hệ giữa tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh): tổ chức tín dụng bảo lãnh sẽ phát hành bảo lãnh và bên có nghĩa vụ phải hoàn lại cho bên bảo lãnh giá trị phần nghĩa vụ mà bên bảo lãnh đã thực hiện thay mình (đây gọi là hợp đồng cấp bảo lãnh).

- Mối quan hệ giữa tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh): tổ chức tín dụng bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu như đến hạn nghĩa vụ bị vi phạm (hay còn gọi là hợp đồng bảo lãnh ngân hàng).

Thứ hai, bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập. Các quan hệ có mối liên hệ với nhau nhưng chúng lại độc lập với nhau. Đó là sự độc lập của quan hệ giữa tổ chức tín dụng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và tổ chức tín dụng bảo lãnh, kể cả trường hợp bên được bảo lãnh có vi phạm nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) thì tổ chức tín dụng không được quyền từ chối mà vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình.

Bảo lãnh ngân hàng là dạng của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mang tính phái sinh. Nó phát sinh khi có một yêu cầu bảo lãnh trong giao dịch hợp đồng giữa bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh).

Vì vậy, bảo lãnh ngân hàng là sự thỏa thuận về việc cam kết của tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho khách hàng nếu khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ đã cam kết thì khách hàng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho tổ chức tín dụng đó.

 

2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại

Các bên thỏa thuận với nhau về phương thức giải quyết tranh chấp, khi các bên lựa chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp thì Tòa án không còn thẩm quyền nữa và phải từ chối thụ lý (trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được). Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nếu các bên có thỏa thuận trọng tài (thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp); hoặc trong trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; hoặc trong trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều 5 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

Thẩm quyền của Trọng tài thương mại không bị giới hạn theo lãnh thổ nên các bên tranh chấp có thể lựa chọn bất kỳ hội đồng trọng tài nào, có thể lựa chọn bất kỳ hội đồng trọng tài nào, có thể ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài.

 

3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án

Căn cứ vào Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tòa án ở nước ta được chia làm các cấp như sau:

Tòa án nhân dân tối cao: là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án các cấp đã có hiệu lực bị kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân cấp cao: có chức năng xét xử phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật vì kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm những vụ việc thuộc thẩm quyền theo quy định của luật tố tụng; phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp huyện khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới, kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kháng nghị.

Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: chỉ có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ việc thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tòa án quân sự: chỉ tham gia giải quyết vụ việc hình sự theo sự phân định thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng là tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại cho nên tranh chấp này thuộc về thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: "Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận".

 

3.1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng. Nếu đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Tòa án chuyên trách của Tòa án nhân dân cấp huyện, cụ thể là Tòa án dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có Tòa án chuyên trách thì Chánh án Tòa án nhân dân có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

 

3.2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng, trừ các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Nhưng Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Tòa án kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng trong trường hợp tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục phúc thẩm những vụ án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.

 

3.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng.

Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức để giải quyết những tranh chấp phát sinh từ bảo lãnh ngân hàng.

Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định thẩm quyền của Tòa án theo yêu cầu của nguyên đơn trong các trường hợp sau đây:

- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết.

- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết.

- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp về việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.