1. Quy định về thẩm quyền liên quan đến thả tàu nhanh
Điều 292 Công ước Luật Biển 1982 quy định:
“1. Khi cơ quan chức năng của một quốc gia thành viên bắt giữ tàu thuyền mang cờ của quốc gia thành viên khác và có cáo buộc cho rằng quốc gia bắt giữ đã không tuân thủ các quy định của Công ước về thả nhanh tàu và thủy thủ của tàu sau khi nộp tiền bảo lãnh hay các bảo đảm tài chính hợp lý khác, vấn đề thả tàu khỏi giam giữ có thể được đệ trình lên bất kỳ tòa nào được các bên chấp nhận hoặc, nếu không có thỏa thuận trong 10 ngày kể từ thời điểm giam giữa, đệ trình lên tòa được quốc gia bắt giữ chấp nhận theo Điều 287 hoặc lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
2. Yêu cầu giải phóng hay trả tự do chỉ có thể do quốc gia mà tàu mang cờ hoặc nhân danh quốc gia ấy đưa ra.
3. Tòa án nhanh chóng xem xét yêu cầu này và chỉ xét xử vấn đề giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ, việc này không có ảnh hưởng gì đến tiến trình tiếp sau của mọi vụ kiện mà chiếc tàu, người chủ chiếc tàu hay đoàn thủy thủ của nó có thể là đối tượng trước quyền tài phán quốc gia thích hợp. Các nhà chức trách của quốc gia đã tiến hành bắt, giữ vẫn có đủ tư cách ra lệnh giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó vào bất kỳ lúc nào.
4. Ngay khi đã ký gửi khoản tiền bảo lãnh hay một khoản bảo đảm tài chính khác theo quyết định của tòa án, các nhà chức trách của quốc gia đã bắt giữ tàu phải tuân theo quyết định của tòa án về việc giải phóng tàu và trả tự do cho đoàn thủy thủ của nó.”
Như vậy thủ tục thả tàu nhanh sẽ phải kích hoạt bởi quốc gia có tàu bắt giữ, không phải chủ tàu thuyền bị bắt giữ. Chủ tàu tự mình phải thuyết phục quốc gia mà tàu mang cờ kích hoạt thủ tục. Quốc gia mà tàu mang cờ có quyền chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu kích hoạt thủ tục của chủ tàu.
Các án lệ về thả tàu nhanh của ITLOS chủ yếu liên quan đến việc xác định mức hợp lý của khoản bảo lãnh. Các án lệ khá thống nhất nhau và đã hình thành nên cách tiếp cận và tiêu chí chính khi xem xét tính hợp lý của mức bảo lãnh. Tính hợp lý của khoản bảo lãnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố và tuỳ hoàn cảnh của vụ việc cụ thể, và cần được đánh giá một cách khách quan. Các yếu tố chính cần xem xét đến bao gồm mức độ nghiêm trọng của cáo buộc vi phạm, hình phạt có thể bị áp dụng theo luật của quốc gia bắt giữ, giá trị của tàu bị bắt giữ và hàng hoá trên tàu, mức bảo lãnh và hình thức bảo lãnh mà quốc gia bắt giữ yêu cầu. Số vụ việc liên quan đến thả tàu nhanh chiếm đa số trong tổng các vụ việc Toà ITLOS xem xét trong giai đoạn đầu Toà đi vào hoạt động. Vụ việc thả tàu nhanh cuối cùng là Vụ Tomimaru (Nhật Bản và Nga) có phán quyết năm 2007. Một vài ý kiến có thể cho rằng việc hơn 10 năm qua không có vụ việc mới liên quan đến thả tàu nhanh được cho là nhờ một phần vào việc Toà ITLOS đã làm sáng toả cách tiếp cận và tiêu chí chính để xác định mức bảo lãnh hợp lý, qua đó, các quốc gia tự xử lý với nhau mà không cần mang ra Toà xem xét nữa.
2. Điều kiện áp dụng thẩm quyền
Thứ nhất, tòa án có thẩm quyền. Thẩm quyền này cho phép Tòa án Luật Biển có quyền tài phán bắt buộc đối với các bên liên quan ngay cả khi các bên tranh chấp không cùng lựa chọn Tòa án Luật Biển là cơ quan giải quyết tranh chấp. Nói cách khác, khi có sự việc xảy ra, một trong các bên có quyền đưa vụ việc ra Tòa án Luật Biển để giải quyết và trong trường hợp này, bên tranh chấp kia phải chấp nhận quyền tài phán của Tòa án Luật Biển. Trong thực tiễn xét xử của mình, cho tới nay toàn bộ các vụ việc liên quan đến việc phóng thích ngay tàu và thủy thủ đoàn sau khi đã nộp một khoản tiền bảo lãnh đều do các bên đơn phương yêu cầu Tòa án Luật Biển giải quyết yêu cầu về việc phóng thích.
Thứ hai, quốc gia có tàu bị bắt do vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển thì quốc gia có tàu bị bắt có quyền yêu cầu tòa án thực hiện thẩm quyền.
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp khi tàu của một quốc gia thành viên Công ước bị bắt do vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển thì quốc gia có tàu bị bắt giữ đều có quyền yêu cầu Tòa án Luật Biển giải quyết việc phóng thích thủy thủ đoàn và tàu theo quy định của Điều 292, mà chỉ một số trường hợp nhất định mới được áp dụng thủ tục này. Theo Quy định của Công ước 1982, thì việc bắt giữ tàu khi liên quan đến những vi phạm sau sẽ được xem xét theo thủ tục được quy định tại Điều 292:
- Vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển về việc đánh bắt, khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật
- Vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến ô nhiễm
- Vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến khả năng an toàn đi biển của tàu
- Vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến yêu sách hàng hải
Thứ ba, điều kiện để các bên có thể đưa vụ việc ra giải quyết tại Tòa án Luật Biển là quốc gia mà tàu mang cờ cho rằng quốc gia bắt giữ đã không tuân thủ các quy định của Công ước 1982 liên quan đến việc phóng thích ngay tàu và thủy thủ đoàn sau khi đã nộp một khoản tiền bảo đảm. Thẩm quyền của Tòa án Luật Biển trong vấn đề này chỉ giới hạn trong việc “giải quyết yêu cầu về việc phóng thích ngay tàu và thủy thủ đoàn và tiến trình giải quyết việc phóng thích tàu và thủy thủ đoàn sẽ không ảnh hưởng đến cách giải quyết vụ việc này của tòa án trong nước” (Điều 292, khoản 3).
3. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền liên quan đến thả tàu nhanh
3.1. Vụ tàu Camouco giữa Pháp và Panama
- Khái quát vụ việc
Tàu Camouco là tàu đánh cá mang cờ Panama thuộc sở hữu của Công ty Merce-Pesca (S.A), một công ty của Panama. Ngày 16/12/1999, Camouco tời cảng ở Vịnh Wavis tiến vào vùng đánh cá tại biển Bắc. Ngày 28/12/1999, tàu Camouco bị tàu tuần tra của Pháp kiểm tra khi thả lưới đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của đảo Crozet thuộc Pháp. Theo phía Pháp, tàu Camouco đã vi phạm: 1) đánh bắt cá trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của đảo Crozet thuộc quyền tài phán của Pháp; 2) đã không tuân thủ việc thông báo khu vào phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của đảo Crozet trong khi cơ quan chức năng của Pháp phát hiện trên tàu Camouco có 6 tấn cá đông lạnh; 3) che đậy hình dạng bên ngoài của tàu trong khi mang cờ nước ngoài; 4) cố tình bỏ trốn để chống lại việc điều tra của cơ quan hàng hải.
Ngày 29/9/1999, tàu Camouco được tàu hải quân Pháp hộ tống về cảng Port des Galets, Reunion nơi tàu và thủy thủ đoàn bị tạm giữ (thuyền trưởng bị đưa ra tòa, các thủy thủ đoàn còn lai được để lại trên tàu để trông giữ tàu). Ngày 8/10/1999, các cơ quan chức năng của Pháp đã đề nghị Tòa sơ thẩm tại Saint-Paul phê chuẩn lệnh bắt tàu và đề nghị Tòa cho phép phóng thích tàu với điều kiện là chủ tàu phải trả một khoản tiền bảo lãnh lãnh trị giá 20.000.000 FF.
Ngày 22/10/1999, công ty sở hữu tàu Camouco và thuyền trưởng đã gửi đơn lên Tòa án sơ thẩm tại Saint Paul, đề nghị phóng thích ngay tàu, đồ vật bị bắt giữ và đề nghị giảm mức tiền bảo lãnh, tuy nhiên Tòa án sơ thẩm tại Saint Paul đã bác đơn yêu cầu này và sau đó đơn yêu cầu này lại được gửi đến Tòa phúc thẩm tại Sain Denis và trong quá trình Tòa án phúc thẩm tại Sain Denis đang xem xét thì Panama đệ trình vụ việc ra Toà án Quốc tế về Luật Biển.
Ngày 17/01/2000, đại diện của Panama đã nộp đơn yêu cầu ITLOS thụ lý giải quyết yêu cầu phóng thích ngay tàu Camouco và thủy thủ đoàn bị phía Pháp bắt giữ theo Điều 292 của Công ước 1982. Trong đơn khởi kiện, phía Panama yêu cầu: Tòa quyết định thẩm quyền xem xét đơn khởi kiện; Tuyên bố chấo nhận đơn khởi kiện, Tuyên bố rằng Cộng hòa Pháp đã không tuân theo đúng Điều 73, Khoản 4 do không thông báo ngay lập tức tới Cộng hòa Panama về việc bắt giữ tàu Camouco.
- Cơ sở để Tòa án có thẩm quyền giải quyết
Thứ nhất, Panama khẳng định Pháp đã không tuân thủ các quy định của Công ước về việc thả tàu hoặc thủy thủ đoàn ra nhanh chóng ngay sau khi nộp tiền bảo lãnh hay các bảo đảm tài chính hợp lý khác.
Thứ hai, Panama và Pháp đều là các quốc gia thành viên của Công ước.
Panama phê chuẩn Công ước vào ngày 1 tháng bảy năm 1996 và Công ước có hiệu lực tại Panama vào ngày 3 tháng 7 năm 1996. Pháp phê chuẩn công ước vào ngày 1 tháng tư năm 1996 và Công ước bắt đầu có hiệu lực đối với Pháp vào ngày 1 tháng tư năm 1996
Thứ ba, đơn đề nghị giải quyết của Panama đáp ứng được quy định về mặt thời gian. Khi các bên không thỏa thuận được thì trong 10 ngày kể từ thời điểm giam giữ, quốc gia có tàu bị bắt sẽ nộp yêu cầu phóng thích tàu và thủy thủ tàu cho tòa án được quốc gia bắt giữ chấp nhận theo Điều 287 hoặc lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển.
Thứ tư, việc Panama ủy quyền cho người khác nộp đơn yêu cầu giải quyết vụ việc là phù hợp theo quy định tại Điều 292, khoản 2 của Công ước và đơn yêu cầu giải quyết vụ việc cũng đã đáp ứng các yêu cầu của Điều 110 và 111 của Công ước.
Thứ năm, Tòa án ghi nhận Pháp không phản đối thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án.
Chính vì những cơ sở trên, Tòa án đã khẳng định mình có thẩm quyền đối với việc tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết vụ việc cũng như thẩm quyền cho phán quyết về thả tàu nhanh.
Phán quyết của Tòa án: Toà án xác định có thẩm quyền đối với yêu cầu này và đơn đề nghị của bên nguyên đơn được chấp nhận. Toà án đã ra phán quyết yêu cầu Pháp phóng thích ngay tàu Camouco và thuyền trưởng của tàu sau khi Panama đã nộp một khoản tiền bảo đảm 8.000.000 FF.
Qua vụ việc trên có thể thấy Tòa án đã làm rõ việc xác định quyền tài phán của mình theo Điều 292 của Công ước Luật Biển 1982.
3.2. Vụ việc “Monte Confurco” giữa Seychelles và Pháp năm 2000
- Khái quát vụ việc
Monte Cafurco là tàu đánh cá lớn mang cờ của Seychelles và được Seychelles cấp giấy phép đánh cá tại vùng biển quốc tế. Ngày 08/11/2000, tàu Monte Confurco bị lực lượng hải quân của Pháp bắt giữ khi đang trong vùng đặc quyền kinh tế của đảo Kergualen của Pháp do đã không trình diện và báo cáo về số lượng cá đánh bắt được cho cơ quan có thẩm quyền của Pháp ở đảo Kerguelen, đánh bắt cá không có sự đồng ý theo luật pháp và cố gắng lẩn trốn sự điều tra của nhà chức trách.
Tòa án sơ thẩm tại Saint Paul đã phê chuẩn lệnh bắt tàu Monte Confurco và đồng ý phóng thích tàu với điều kiện là chủ tàu phải trả một khoản tiền bảo lãnh là 56.400.000 FF.
Ngày 27/11/2000, đại diện của Seychelles nộp đơn yêu cầu Toà ITLOS thụ lý giải quyết yêu cầu phóng thích ngay tàu Camouco và thủy thủ đoàn bị phía Pháp bắt giữ theo Điều 292 của Công ước Luật biển 1982. Trong đơn khởi kiện, Seychelles yêu cầu Tòa tuyên bố Pháp đã vi phạm Điều 73, Khoản 4 Công ước Luật Biển do không đưa ra thông báo ngay lập tức tới Cộng hòa Seychelles đối với việc bắt giữ tàu Monte Confurco và tuyên bố rằng yêu cầu bảo lãnh thiết lập bởi Cộng hòa Pháp là không phù hợp với số lượng, bản chất hay hình thức của nó.
- Cơ sở để Tòa án có thẩm quyền giải quyết
Thứ nhất, Seychelles khẳng định rằng Pháp không tuân thủ các quy định tại Điều 73 của Công ước về việc giải phóng nhanh chóng một con tàu hoặc phi hành đoàn của nó. Bên cạnh đó Seychelles cũng khẳng định rằng số tiền bảo đảm mà Pháp yêu cầu là quá mức. Các bên đã không đạt được thỏa thuận trong vòng 10 ngày kể từ thời điểm tàu của Seychelles bị giam giữ nên Seychelles đệ trình lên tòa án được quốc gia bắt giữ chấp nhận theo Điều 287 hoặc lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển. Chính vì vậy, Tòa án Quốc tế về Luật Biển có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết vụ việc theo quy định của Công ước.
Thứ hai, Seychelles và Pháp đều là các quốc gia thành viên của Công ước, Seychelles phê chuẩn Công ước 6 tháng 9 năm 199 và Công ước có hiệu lực với Seychelles vào ngày 6 tháng 11 năm 1994. Pháp đã phê chuẩn Công ước ngày 11 tháng tư năm 1996 và Công ước bắt đầu có hiệu lực đối với Pháp ngày 11 tháng 5 năm 1996.
Thứ ba, Seychelles là quốc gia mà tàu Monte Confurco mang cờ. Tại thời điểm xảy ra sự việc và hiện tại hai bên đều không đưa ra được thỏa thuận chung nên Seychelles được quyền nộp đơn yêu cầu đến Tòa án. Việc Seychelles ủy quyền cho người khác nộp đơn yêu cầu giải quyết vụ việc là phù hợp theo quy định tại Điều 292, khoản 2 của Công ước và đơn yêu cầu giải quyết vụ việc cũng đã đáp ứng các yêu cầu của Điều 110 và 111 của Công ước.
Thứ tư, Pháp không phản đối thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án.
Chính vì những cơ sở trên, Tòa án đã khẳng định mình có thẩm quyền đối với việc tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết vụ việc của Seychelles cũng như thẩm quyền cho phán quyết về thả tàu nhanh.
Phán quyết của Tòa án: Ngày 18/12/2000, Toà án ra phán quyết yêu cầu Pháp phóng thích ngay tàu và thủy thủ đoàn sau khi Seychelles nộp một khoản tiền đảm bảo trị giá 18.000.000 FF. Trong vụ này, Toà ITLOS đã giải thích rõ quy định của Điều 73 của Công ước 1982 liên quan đến việc phóng thích ngay tàu và thủy thủ đoàn sau khi đã nộp một khoản tiền bảo lãnh hợp lý.