- 1. Các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS
- 2. Biện pháp khiểm trách
- 3. Biện pháp hòa giải tại cộng đồng
- 4. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
- 5. Thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS
1. Các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS
Một trong những nội dung đổi mới cơ bản trong chính sách xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi là hạn chế xử lý hình sự đối với các em, đặc biệt là các em dưới 16 tuổi trên nguyên tắc việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của các em và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các em sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trên tinh thần đó, bên cạnh việc thu hẹp diện các tội mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, Chương XII Bộ luật hình sự năm 2015 về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng đã quy định khá rộng những trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 thì ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự áp dụng chung quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một số trường hợp nhất định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả gây ra thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục, bao gồm: khiển trách; hòa giải tại cộng đồng; giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Khoản 2 Điều 91 BLHS:
Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”
Quy định này nhằm tạo điều kiện sớm đưa các em ra khởi vòng quay tố tụng hình sự và áp dụng các biện pháp mang tính giám sát, giáo dục đối với các em tại cộng đồng nhằm giúp cho các em nhận thức rõ hành vi phạm tội cũng như hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, các điều kiện nêu trên chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ để quyết định có áp dụng các biện pháp này hay không chính là phải có sự đồng ý của chính người phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đối với việc áp dụng một trong các biện pháp này.
Bộ luật hình sự năm 2015 cũng quy định rõ điều kiện áp dụng từng biện pháp giám sát, giáo dục đối với từng đối tượng cụ thể cũng như các nghĩa vụ mà người được áp dụng biện pháp này phải thực hiện.
2. Biện pháp khiểm trách
Khiển trách được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này;
- Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”
Người bị khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ:
- Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
- Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
- Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
3. Biện pháp hòa giải tại cộng đồng
Hòa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này;
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.”
Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
- Xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại;
- Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
- Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
- Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
4. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.
Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
- Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động;
- Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn;
- Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép;
- Các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật hình sự. Xem thêm: Quy trình tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội?
5. Thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS
Để bảo đảm thực hiện quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015, tại Chương XXVIII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi đã được bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (các điều 426 - 429):
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 426 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì, tùy theo giai đoạn tố tụng, có ba cơ quan có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự. Đó là, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.
Thứ hai, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục được quy định tại các điều 427, 428 và 429 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, theo đó, trong từng vụ án cụ thể, khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục theo quy định của Bộ luật hình sự, thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết.
Thứ ba, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (các điều 427 - 429) quy định rõ 05 nội dung chính bắt buộc phải thể hiện trong các quyết định áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục, bao gồm:
(1) Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định;
(2) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định;
(3) Lý do, căn cứ ra quyết định;
(4) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, bị cáo;
(5) Tội danh, điểm, khoản, điều khoản của Bộ luật hình sự đã áp dụng. Ngoài các nội dung chính này, đối với quyết định áp dụng mỗi loại biện pháp giám sát, giáo dục còn phải có thêm một số nội dung bắt buộc khác.
Thứ tư, Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định về việc giao quyết định áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục, theo đó:
(1) Quyết định áp dụng các biện pháp khiển trách phải được giao cho người bị khiển trách, cha mẹ hoặc người đại diện của họ;
(2) Quyết định áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải được giao cho người dưới 18 tuổi phạm tội, cha mẹ hoặc người đại diện của họ; người bị hại, người đại diện của người bị hại và ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức việc hòa giải;
(3) Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải được giao cho người bị áp dụng biện pháp này, cha mẹ hoặc người đại diện của họ và chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú.
Thứ năm, Điều 428 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể, chặt chẽ trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải tại cộng đồng, theo đó, khi tiến hành hòa giải, Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán được phân công tiến hành hòa giải phải phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức việc hòa giải và phải lập biên bản hòa giải, đồng thời, quy định rõ Biên bản hòa giải phải có các nội dung chính sau: (1) Địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành hòa giải, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc; (2) Họ tên Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công tiến hành hòa giải; (3) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, bị cáo; (4) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị hại; (5) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của những người khác tham gia hòa giải; (6) Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày của những người tham gia hòa giải; (7) Kết quả hòa giải; người dưới 18 tuổi, cha mẹ hoặc người đại diện của người dưới 18 tuổi xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại (nếu có); người bị hại, người đại diện của người bị hại đã tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự (nếu có); (8) Chữ ký của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hòa giải.
Ngay sau khi kết thúc hòa giải, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành hòa giải phải đọc lại biên bản cho những người tham gia hòa giải nghe. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung thì, Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán đã lập biên bản phải ghi những sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản và ký xác nhận. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì phải ghi rõ lý do vào biên bản. Biên bản hòa giải được giao cho những người tham gia hòa giải.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)