nên phần lớn diện tích đất cửa hàng nằm trong hành lang, từ đó đến nay doanh nghiệp không xin được giấy phép xây dựng cửa hàng. Cửa hàng có Giấy chứng nhận đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu đến ngày 15/8/2019 và sau đó được Sở Công thương gia hạn đến ngày 15/8/2019. Doanh nghiệp vẫn không đổi được giấy CNDĐKBLXD, Doanh nghiệp ngày 02/9/2019 có Tờ trình số 16/TTr-CT gửi UBND tỉnh v/v xin cho phép cửa hàng cơ sở 1 của doanh nghiệp được tiếp tục hoạt động và Công văn ngày 27/9/2019 gửi Lãnh đạo Sở Công thương v/v xin phép thời gian ngừng bán hàng. Trong thời gian chờ đợi trả lời của các cấp doanh nghiệp vẫn bán hàng với chứng từ hóa đơn, đóng thuế đầy đủ.

Ngày 11/1/2021 Thanh tra Sở Công thương thanh tra đột xuất tại cửa hàng cơ sở 1 và lập biên bản thanh tra và sau đó ngày 28/1/2021 có mời doanh nghiệp và nhà cung cấp ra làm việc. Tại buổi làm việc doanh nghiệp và nhà cung cấp có ký biên bản làm việc với lỗi doanh nghiệp bán hàng khi giấy chứng nhận đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu đã hết hạn (Biên bản làm việc không cung cấp cho doanh nghiệp và nhà cung cấp). Từ ngày Thanh tra Sở vào làm việc nhà cung cấp ngừng bán hàng cho doanh nghiệp nên doanh nghiệp bán hết hàng tồn kho và ngừng hoạt động. Đến ngày 04/3/2021 doanh nghiệp làm thủ tục tạm ngưng hoạt động được Sở KH&ĐT cấp giấy xác nhận.

Ngày 15/3/2021 Thanh tra Sở Công thương mời doanh nghiệp ra làm việc tuy nhiên lúc này doanh nghiệp đã ngừng tôi đang đi làm thuê cho người khác nên không ra làm việc. Nhưng có gửi Công văn cho Thanh tra Sở lý do không ra làm việc vì đang đi làm thuê và doanh nghiệp đã ngừng hoạt động. Trước đó Thanh tra viên của đoàn có gửi tôi qua Zalo Biên bản vi phạm hành chính yêu cầu tôi ký mang ra. Tôi thấy điều này không đúng theo điều 58 Luật xử phạt hành chính sửa đổi năm 2020, và áp dụng điều xử phạt làm điều 20 Nghị định 99/2020/NĐ-CP tuy nhiên trước đó Luật sư đã tư vấn doanh nghiệp tôi vi phạm điều 14 chứ không phải điều 20. Nên tôi không ký.

Ngày 16/3/2021 Đoàn thanh tra vào nhà của tôi gâp áp lực với tôi và gia đình yêu cầu tôi phải ra làm việc. Sáng ngày 24/3 Chánh thanh tra sở có gọi điện cho Bố tôi nói đoàn sẽ mời làm việc lần nữa nếu không ra làm việc sẽ chuyển hồ sơ qua Công an.

Kính thưa Luật sư bản thân doanh nghiệp biết mình có vi phạm nhưng việc áp dụng điều khoản xử phạt không đúng, trong quá trình thanh tra không cung cấp cho doanh nghiệp bất kỳ tài liệu liên quan nào, không cho doanh nghiệp có cơ hội giải trình, đến khi doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động mới tiếp tục mời làm việc, gây sức ép cho doanh nghiệp và gia đình gây ảnh hưởng đến đời sống công việc của tôi và gia đình.

Nên tôi xin hỏi Luật sư vấn đề sau:

1. Doanh nghiệp vi phạm điều 20 hay điều 14 của nghị định 99/2020. Đoàn Thanh tra đã làm đúng quy trình theo quy định Thanh tra không? Việc chuyển hồ sơ qua cho Công an có đúng quy định?

2. Đến giờ Doanh nghiệp có quyền từ chối làm việc với Đoàn khi có giấy mời tiếp theo không? doanh nghiệp có phải không còn là đối tượng bị thanh tra và không bị xử phạt? Doanh nghiệp nên làm gì để bảo vệ quyền lợi trước sức ép của Thanh tra?

3. Cơ sở 2 của doanh nghiệp hoạt động từ năm 2005. Giấy chứng nhận đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu của cửa hàng đến tháng 4/2021 hết hạn. Cuối năm 2020 doanh nghiệp làm thủ tục nâng cấp cửa hàng số 2 theo quy chuẩn cửa hàng xăng dầu nhưng bị UBND tỉnh từ chối vì đất của cửa hàng được quy hoạch là đất. Cơ sở 1 nằm trong đất hành lang bảo vệ đừng. Đến thời điểm hiện tại cả 2 cửa hàng của doanh nghiệp điều không đủ điều kiện để hoạt động dẫn đến việc phải tạm ngưng hoạt động và có thể phải giải thể.

Vậy doanh nghiệp có quyền lợi nào để đảm bảo sự hoạt động của doanh nghiệp, nhà nước có chính sách nào hỗ trợ doanh nghiệp trong trường hợp này?

Cảm ơn luật sư!

 

Trả lời:

1. Quy định về hoạt động thanh tra kinh doanh xăng dầu

- Bộ luật dân sự năm 2015;

- Luật đất đai năm  2013;

- Luật xây dựng năm 2014;

- Luật xây dựng sửa đổi năm 2020;

- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

- Luật doanh nghiệp năm 2020;

- Nghị định 81/2013/NĐ-CP hướng dẫn và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính;

- Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp;

- Nghị định 99/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí;

- Nghị định 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu;

 

2. Xử lý hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh xăng dầu

Câu hỏi 1: Doanh nghiệp vi phạm điều 20 hay điều 14 của nghị định 99/2020/NĐ-CP ?

Trả lời:

Theo thông tin Qúy khách cung cấp, thanh tra sở xử phạt Qúy khách theo điều 20 Nghị định 99/2020/NĐ-CP.

Điều 14 và Điều 20 Nghị định 99/2020/NĐ-CP đều nằm trong mục 1 quy định về hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh xăng dầu. Chương III: hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong kinh doanh xăng dầu.

Điều 20 Nghị định 99/2020/NĐ-CP quy định:

Điều 20. Hành vi vi phạm khác về điều kiện kinh doanh xăng dầu

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi viết thêm, tẩy xóa, sửa chữa làm thay đổi nội dung ghi trong Giấy phép kinh doanh xăng dầu.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp, bán, chuyển nhượng Giấy phép kinh doanh xăng dầu;

b) Thuê, mượn, nhận cầm cố, nhận thế chấp, mua, nhận chuyển nhượng Giấy phép kinh doanh xăng dầu.

3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Kinh doanh xăng dầu mà không có Giấy phép kinh doanh xăng dầu theo quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 27 Nghị định này;

b) Kinh doanh xăng dầu khi Giấy phép kinh doanh xăng dầu được cấp đã hết hiệu lực;

c) Sử dụng Giấy phép kinh doanh xăng dầu của thương nhân khác để kinh doanh xăng dầu;

d) Kinh doanh xăng dầu không đúng nội dung ghi trong Giấy phép kinh doanh xăng dầu được cấp.

4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh trong thời gian bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động, tước quyền sử dụng hoặc thu hồi Giấy phép kinh doanh xăng dầu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định này.

5. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều này trong trường hợp đối tượng vi phạm kinh doanh theo hình thức kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, kinh doanh phân phối xăng dầu hoặc tổng đại lý kinh doanh xăng dầu thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh xăng dầu từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 99/2020/NĐ-CP giải thích rõ: Giấy phép kinh doanh xăng dầu gồm: Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu, Giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu, Giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu, Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.

Do đó, có thể thấy khái niệm giấy phép kinh doanh xăng dầu là một khái niệm chung, giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu là một trong những giấy phép kinh doanh xăng dầu.

Theo hồ sơ Qúy khách cung cấp (giấy mời số 03/GM-TTr của Thanh tra sở - Sở công thương Phú Yên) thể hiện “giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu cửa hàng xăng dầu Bốn Hạnh (cơ sở 1), địa chỉ: KP. Phú Thọ, TT. Hòa Hiệp trung, TX Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã hết thời hạn, tuy nhiên cửa hàng vẫn kinh doanh xăng dầu không đúng quy định.

Như vậy, có thể thấy cửa hàng xăng dầu Bốn Hạnh (cơ sở 1) đã kinh doanh không có giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định.

Điểm a Khoản 3 Điều 20 Nghị định 99/2020/NĐ-CP trên quy định rõ: “3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Kinh doanh xăng dầu mà không có Giấy phép kinh doanh xăng dầu theo quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 27 Nghị định này;”

Điều khoản này loại trừ khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 27 của Nghị định.

Khoản 2 Điều 14 Nghị định 99/2020/NĐ-CP quy định:

“Điều 14. Hành vi vi phạm quy định về điều kiện cửa hàng bán lẻ xăng dầu

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với thương nhân bán lẻ xăng dầu tại cơ sở không có Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác..”

Như vậy, việc cửa hàng xăng dầu Bốn Hạnh (cơ sở 1) đã kinh doanh không có giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu là hành vi vi phạm và bị xử phạt theo quy định tại Điều 14 nêu trên.

 

3. Doanh nghiệp có quyền từ chối đoàn thanh tra hay không ?

Câu hỏi 2. Đến giờ Doanh nghiệp có quyền từ chối làm việc với Đoàn khi có giấy mời tiếp theo không?

Doanh nghiệp có phải không còn là đối tượng bị thanh tra và không bị xử phạt? Doanh nghiệp nên làm gì để bảo vệ quyền lợi trước sức ép của Thanh tra?

Trả lời:

Theo hồ sơ Qúy khách cung cấp:

- Ngày 06/01/2021, sở Công thương - UBND tỉnh Phú Yên ban hành quyết định số 02/QĐ-SCT về việc thành lập Đoàn thanh tra đột xuất việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh.

- Ngày11/01/2021 tại cửa hàng xăng dầu Bốn Hạnh (cơ sở 1) thuộc công ty TNHH Xăng Dầu Bốn Hạnh, đoàn thanh tra theo quyết định số 02/QĐ-SCT Ngày 06/01/2021 của sở Công thương - UBND tỉnh Phú Yên lập biên bản thanh tra (đột xuất) việc chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh xăng dầu tại cửa hàng xăng dầu Bốn Hạnh (cơ sở 1).

- Ngày 25/01/2021 Thanh tra sở - sở công thương Phú Yên ban hành giấy mới số 03/GM-TTr để làm rõ một số nội dung liên quan đến việc cung cấp xăng dầu đến công ty TNHH xăng dầu Bốn Hạnh.

- Ngày 9/3/2021 Thanh tra sở - sở công thương Phú Yên ban hành giấy mới số 04/GM-TTr về việc xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh xăng dầu đến công ty TNHH xăng dầu Bốn Hạnh.

Ngoài ra, như Qúy khách cung cấp ngày 15/3/2021 Thanh tra Sở Công thương mời doanh nghiệp ra làm việc, tuy nhiên lúc này doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, Qúy khách đang đi làm thuê cho người khác nên không ra làm việc. Nhưng Qúy khách có gửi Công văn cho Thanh tra Sở lý do không ra làm việc vì đang đi làm thuê và doanh nghiệp đã ngừng hoạt động. Trước đó Thanh tra viên của đoàn có gửi Qúy khách qua Zalo Biên bản quy phạm hành chính yêu cầu Qúy khách ký và mang ra.

Như đã xác định rõ ở câu hỏi 1 trong thư tư vấn này, hành vi vi phạm của công ty TNHH Xăng Dầu Bốn Hạnh là hành vi vi phạm hành chính. Cụ thể thanh tra cũng đã xác định là xử phạt theo Nghị định 99/2020/NĐ-CP. Nghị định 99/2020/NĐ-CP là nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí. Vì vậy, trình tự thủ tục xử lý vi phạm hành được thực hiện theo Luật xử lý vi phạm hành chính 2012. Cụ thể như sau:

 

4. Các bước tiến hành thanh tra hoạt động kinh doanh xăng dầu đúng luật

Bước 1. Lập biên bản vi phạm hành chính (Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012)

Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình.

Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.

Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Qua thông tin Qúy khách cung cấp, thanh tra tại thời điểm kiểm tra cơ sở kinh doanh của Qúy khách chưa lập biên bản ghi nhận sự việc vi phạm.

 

Bước 2. Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính (Điều 59 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012).

Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết sau đây: Có hay không có vi phạm hành chính; Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân vi phạm hành chính; Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; Tính chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra; Tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt...

Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định.

Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản.

 

Bước 3. Giải trình

1. Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể gia hạn thêm không quá 05 ngày theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm.

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.

3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.

Bước 4. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân vi phạm.

Trong vụ việc của Qúy khách, dựa trên thông tin và hồ sơ Qúy khách cung cấp, theo quan điểm của Luật Minh Khuê không có dấu hiệu tội phạm nên không có cơ sở chuyển hồ sơ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Bước 5. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Như vậy, kể từ thởi điểm lập biên bản vi phạm hành chính thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 60 ngày, cả thời gian gia hạn. Theo thông tin Qúy khách cung cấp, phía thanh tra không lập biên bản xử phạt hành chính. Vì vậy, theo quy trình trên thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt hành chính khi không lập biên bản vi phạm hành chính.

Nếu Qúy khách có thể đến cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính giải trình hoặc không. Cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, theo quy trình trên việc giải trình không mang tính chất bắt buộc.

Nếu đoàn thanh tra đã lập biên bản theo đúng quy định, dù Qúy khách không lên giải trình thì thanh tra vẫn có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đoàn thanh tra kiểm tra cửa hàng xăng dầu Bốn Hạnh (cơ sở 1) thuộc công ty TNHH Xăng Dầu Bốn Hạnh ngày 11/01/2021. Như vậy, có thể hiểu ngày phát hiện hành vi vi phạm là ngày 11/01/2021. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính là 01 năm. Vì vậy, hiện tại vẫn còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Trường hợp này, thanh tra đã không thực hiện xử phạt hành chính theo đúng quy định các bước nêu trên. Vì vậy, công ty Bốn Hạnh có thể làm đơn khiếu nại, khiếu nại lại hành vi vi phạm luật xử lý vi phạm hành chính của thanh tra.

 

Câu hỏi 3. Cơ sở 2 của doanh nghiệp hoạt động từ năm 2005.

Giấy chứng nhận đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu của cửa hàng đến tháng 4/2021 hết hạn. Cuối năm 2020 doanh nghiệp làm thủ tục nâng cấp cửa hàng số 2 theo quy chuẩn cửa hàng xăng dầu nhưng bị UBND tỉnh từ chối vì đất của cửa hàng được quy hoạch là đất. Cơ sở 1 nằm trong đất hành lang bảo vệ đường. Đến thời điểm hiện tại cả 2 cửa hàng của doanh nghiệp điều không đủ điều kiện để hoạt động dẫn đến việc phải tạm ngưng hoạt động và có thể phải giải thể. Vậy doanh nghiệp có quyền lợi nào để đảm bảo sự hoạt động của doanh nghiệp, nhà nước có chính sách nào hỗ trợ doanh nghiệp trong trường hợp này?

Trả lời:

Hiện tại, đối với nội dung của Qúy khách chưa có chính sách hỗ trợ nào cho doanh nghiệp. Vì vậy, đối với việc kinh doanh xăng dầu để đảm bảo kinh doanh hợp pháp. Qúy khách cần đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềKinh doanh xăng dầu”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, Hãy gọi: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật  - Công ty Luật TNHH Minh Khuê