1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên Hợp tác xã
Quyền và trách nhiệm của các thành viên trong một hợp tác xã được quy định trong Điều 14 và Điều 15 của Luật Hợp tác xã 2012 như sau:
Quyền của thành viên:
- Nhận sản phẩm và dịch vụ từ hợp tác xã theo các hợp đồng dịch vụ.
- Phân chia thu nhập theo quy định của Luật và điều lệ.
- Hưởng các quyền lợi của hợp tác xã.
- Tham gia và bầu cử đại biểu tham dự đại hội thành viên.
- Tham gia bỏ phiếu về các vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội thành viên theo quy định của Luật.
- Tiến cử và ủng hộ ứng cử viên cho Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát hoặc Kiểm soát viên và các vị trí khác trong hợp tác xã.
- Đề xuất và yêu cầu Hội đồng Quản trị, Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc), Ban Kiểm soát hoặc Kiểm soát viên giải trình về hoạt động của hợp tác xã; yêu cầu triệu tập đại hội thành viên bất thường theo quy định của Luật và điều lệ.
- Nhận thông tin liên quan đến hoạt động của hợp tác xã; được hỗ trợ đào tạo và phát triển kỹ năng để phục vụ hoạt động của hợp tác xã.
- Rời khỏi hợp tác xã theo quy định của điều lệ.
- Nhận lại vốn góp khi rời khỏi hợp tác xã theo quy định của Luật và điều lệ.
- Chia sẻ giá trị tài sản còn lại của hợp tác xã theo quy định của Luật và điều lệ.
- Được phép khiếu nại, tố cáo, hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.
- Có các quyền khác được quy định trong điều lệ.
Nghĩa vụ của thành viên:
- Sử dụng sản phẩm và dịch vụ của hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ.
- Đóng đủ và đúng hạn vốn góp đã cam kết theo điều lệ.
- Chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã.
- Bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho hợp tác xã theo quy định của pháp luật.
- Tuân thủ điều lệ, quy chế của hợp tác xã, các nghị quyết của đại hội thành viên và quyết định của Hội đồng Quản trị.
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của điều lệ.
2. Quy định về việc góp vốn của các thành viên trong hợp tác xã
Theo Luật Hợp tác xã năm 2012, thành viên hợp tác xã phải thực hiện góp vốn theo quy định sau đây:
- Vốn góp của thành viên được thực hiện dưới hình thức thỏa thuận và tuân theo quy định của điều lệ, nhưng không vượt quá 20% của vốn điều lệ của hợp tác xã.
- Thời hạn, hình thức và mức độ góp vốn điều lệ được chỉ định trong điều lệ, nhưng thời gian góp đủ vốn không được quá 06 tháng, tính từ ngày hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký.
- Khi đã đóng đủ vốn, thành viên sẽ nhận được giấy chứng nhận vốn góp từ hợp tác xã.
- Quy trình, thủ tục về việc cấp, cấp lại, thay đổi hoặc thu hồi giấy chứng nhận vốn góp sẽ được điều lệ quy định.
Dựa vào những quy định trên, việc góp vốn của các thành viên trong hợp tác xã phải tuân theo các hạn chế và quy định được quy định cụ thể, đảm bảo rằng không vượt quá 20% vốn điều lệ và không quá 06 tháng tính từ thời điểm hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kết nạp.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Luật hợp tác xã 2012 thì góp vốn điều lệ và giấy chứng nhận vốn góp được quy định như sau: Đối với hợp tác xã, vốn góp của thành viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã. Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 4 Luật Hợp tác xã 2012 thì: Vốn góp tối thiểu là số vốn mà cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân phải góp vào vốn điều lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã để trở thành thành viên, hợp tác xã thành viên.
Như vậy, hiện không có quy định về vốn góp tối thiểu vào hợp tác xã là bao nhiêu, vấn đề này sẽ thực hiện theo thỏa thuận và theo điều lệ hợp tác xã.
Có thể thấy được việc góp vốn để gia nhập hợp tác xã là hoàn toàn tự nguyện và thỏa thuận của các bên, theo điều lệ quy định. Nghĩa là mỗi người khi xin gia nhập hợp tác xã thì việc góp vốn là hoàn toàn tự nguyện tùy theo khả năng tài chính của mình, mức tối thiểu phải góp bao nhiêu là do điều lệ quy định nhưng tối đa không quá 20% vốn điều lệ. Việc góp vốn nhiều hay ít không ảnh hưởng đến quyền biểu quyết tức là Thành viên hợp tác xã có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ.
3. Thành viên hợp tác xã góp vốn thấp hơn thỏa thuận trong điều lệ được không?
- Theo khoản 1 Điều 16 Luật Hợp tác xã 2012 quy định về việc chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã như sau:
Tư cách thành viên bị chấm dứt khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
+ Thành viên là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị kết án phạt tù theo quy định của pháp luật;
+ Thành viên là hộ gia đình không có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; thành viên là pháp nhân bị giải thể, phá sản;
+ Hợp tác xã bị giải thể, phá sản;
+ Thành viên tự nguyện ra khỏi hợp tác xã;
+ Thành viên bị khai trừ theo quy định của điều lệ;
+ Thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm. Đối với hợp tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 02 năm;
+ Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ;
+ Trường hợp khác do điều lệ quy định.
- Theo đó, thẩm quyền quyết định chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã được thực hiện theo khoản 2 Điều 16 Luật Hợp tác xã 2012 như sau:
+ Đối với trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều này thì hội đồng quản trị quyết định và báo cáo đại hội thành viên gần nhất;
+ Đối với trường hợp quy định tại điểm đ, g và h khoản 1 Điều này thì hội đồng quản trị trình đại hội thành viên quyết định sau khi có ý kiến của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.
- Việc giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ đối với thành viên trong trường hợp chấm dứt tư cách thành viên thực hiện theo quy định của Luật này và điều lệ.
Như vậy, theo các quy định trên, trường hợp thành viên hợp tác xã góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ thì sẽ phải chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã và sẽ thuộc thẩm quyền quyết định chấm dứt của hội đồng quản trị trình đại hội thành viên sau khi có ý kiến của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.
Vậy, thành viên hợp tác xã có được góp vốn bằng quyền sử dụng đất không?
Căn cứ theo Điều 42 Luật Hợp tác xã 2012 quy định về xác định giá trị vốn góp như sau:
"1. Vốn góp là tiền đồng Việt Nam, các loại tài sản khác được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam bao gồm ngoại tệ, hiện vật, giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và các loại giấy tờ có giá tại thời điểm góp vốn.
2. Giá trị vốn góp bằng các loại tài sản khác được xác định theo nguyên tắc thỏa thuận giữa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc thông qua tổ chức thẩm định."
Như vậy, theo quy định nêu trên vốn góp để thành lập hợp tác xã ngoài tiền đồng Việt Nam còn có các loại tài sản khác được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam bao gồm ngoại tệ, hiện vật, giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và các loại giấy tờ có giá tại thời điểm góp vốn. Chính vì thế việc thành viên nếu có nhu cầu góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào hợp tác xã thì vẫn được, pháp luật không cấm.
Liên hệ 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ nhanh nhất