Trong sự phát triển và vận hành của nền kinh tế. Để khẳng định vai trò của mình, các ngân hàng thương mại ngày càng có xu hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ của mình trong đó có bảo lãnh ngân hàng. Tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng được thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20 với hệ thống pháp luật được hoàn thiện dần qua các thời kỳ. Để quản lý hiệu quả và tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhà nước đã tạo ra các hành lang pháp lý về bảo lãnh ngân hàng qua các bộ luật, các quy định trong tổ chức tín dụng, ban hành quy chế về bảo lãnh ngân hàng.

 

1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng.

Khi nghiên cứu xem xét khái niệm bảo lãnh ngân hàng các nhà nghiên cưu thường dựa trên nền tảng của Bộ luật dân sự về bảo lãnh. Theo điều 335 Bộ luật dân sự 2015 có quy định :

Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Với khái niệm bảo lãnh ngân hàng dưới góc độ pháp lý theo Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là một hình thức cấp tín dụng. Theo đó, đây là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh). Điều này được áp dụng trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải có trách nhiệm nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. 

 Theo Thông tư 07/2015/TT-NHNN Quy định về Bảo lãnh Ngân hàng khoản 1 điều 3 quy định:

Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận đã ký.

Như vậy, khái niệm bảo lãnh ngân hàng theo định nghĩa tại các văn bản trích dẫn trên đây về cơ bản đều thể hiện bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của một bên thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng giữa hai bên.

 

2. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng.

Với ý nghĩa là một loại hình bảo lãnh đặc thù, bảo lãnh ngân hàng vừa có những đặc điểm của bảo lãnh nói chung, ngân hàng vừa có những đặc điểm riêng để phân biệt với những hình thức bảo lãnh khác bao gồm những đặc điểm sau:

- Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập: Mặc dù bảo lãnh ngân hàng là quan hệ đa phương, các quan hệ có mối liên hệ nhau, tuy nhiên chúng lại độc lập nhau. Sự độc lập của bảo lãnh được hiểu là sự độc lập của quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh, cho dù có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh thì ngân hàng bảo lãnh cũng không thể vì thế mà có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Về bản chất pháp lý bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch thương mại (hay hành vi thương mại) đặc thù. Tính chất thương mại trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng của tổ chức tín dụng thể hiện ở chỗ hhoạt động bảo lãnh này vừa do chính các tổ chức tín dụng thực hiện trên thị trường nhằm mục tiêu thu lợi nhuận, vừa có tính chất chuyên nghiệp như một nghề nghiệp kinh doanh.

Về chủ thể, hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao giờ cũng do chủ thể đặc biệt là tổ chức tín dụng (trong đó chủ yếu là các ngân hàng ) thực hiện.

Giao dịch bảo lãnh ngân hàng có mục đích và hệ quả tạo lập hai hợp đồng, gồm hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh/cam kết bảo lãnh. Hai hợp đồng này tuy có mối quan hệ nhân quả với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau nhưng vẫn độc lập với nhau về cả phương diện chủ thể cũng như phương diện quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể.

Giao dịch bảo lãnh ngân hàng không phải là giao dịch hai bên hay ba bên mà là một giao dịch kép . Sở dĩ có thể quan niệm bảo lãnh ngân hàng là giao dịch kép là bởi vì, để đạt được mục đích và động cơ chủ yếu của mình là phát hành thư bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng và gửi cho bên có quyền – bên nhận bảo lãnh để nhận tiền thù lao dịch vụ (phí bảo lãnh) thì tổ chức tín dụng không thể tiến hành ký kết cả hai loại hợp đồng theo thứ tự : hợp đồng dịch vụ  bảo lãnh đuợc giao kết trước và hợp đồng bảo lãnh được giao kết sau. 

Bảo lãnh ngân hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện (hay còn gọi là bảo lãnh độc lập). Tính chất vô điều kiện của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ, tổ chức tín dụng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh ngay sau khi người này đã xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung của thư bảo lãnh hay cam kết bảo lãnh do tổ chức tín dụng phát hành, mà không phụ thuộc vào việc người được bảo lãnh có khả năng tự thực hiện nghĩa vụ của họ hay không.

Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa trên chứng từ. tính chất chứng từ của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ, khi tổ chức tín dụng  phát hành cam kết bảo lãnh (thư bảo lãnh).

 

3. Phân loại bảo lãnh ngân hàng.

Bảo lãnh ngân hàng được phân chia ra nhiều loại khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách hàng.

  - Phân loại theo phương thức phát hành bao gồm : Bảo lãnh trực tiếp; Bảo lãnh gián tiếp; Bảo lãnh được xác nhận; Đồng bảo lãnh.

 - Phân loại theo mục đích sử dụng bao gồm:  Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (Bảo lãnh vay vốn); Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước; Bảo lãnh miễn khấu trừ giá trị hoá đơn; Bảo lãnh bảo hành hay bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng

  - Phân loại theo hình thức sử dụng : 

+ Bảo lãnh có điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán chỉ có thể được tiến hành khi người thụ hưởng xuất trình kèm theo thư bảo lãnh một số chứng từ hay giấy chứng nhận được quy định trước. Các yêu cầu văn bản ở mỗi bảo lãnh cũng khác nhau có thể là thư tín dụng dự phòng, xác nhận của một chuyên gia, tổ chức trọng tài về việc vi phạm của người được bảo lãnh.

+ Bảo lãnh vô điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán sẽ được thực hiện ngay khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của người thụ hưởng thông báo rằng người được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng. Xem yêu cầu này như một mệnh lệnh thanh toán đơn giản không đòi hỏi phải có chứng từ kèm theo.

 

4. Hình thức bảo lãnh ngân hàng.

pháp luật quy định về việc bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng phải được lập bằng văn bản. Các văn bản này có thể phải chứng thực nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.  Thông thường có 2 loại văn bản là giấy đề nghị bảo lãnh và cam kết bảo lãnh.

Giấy đề nghị bảo lãnh là văn bản do tổ chức, cá nhân có nhu cầu được bảo lãnh lập theo mẫu quy định của tổ chức tín dụng và được gửi cho tổ chức tín dụng. 

  - Các loại bảo lãnh khác: Thư tín dụng dự phòng (L/C); Bảo lãnh thuế quan; Bảo lãnh hối phiếu; Bảo lãnh phát hành chứng khoán.

Hành vi này có thể coi như một hành vi đề nghị hợp đồng. Nếu trong giấy đề nghị bảo lãnh có đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ( hay hợp đồng cấp bảo lãnh, theo cách định danh của Quy chế bảo lãnh hiện hành ) và được tổ chức tín dụng tiếp nhận nó chấp thuận thì có thể xem như hợp đồng dịch vụ bảo lãnh đã hình thành.

Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh do tổ chức tín dụng lập theo thể thức nhất định. Văn bản bảo lãnh có thể là một cam kết đơn phương của tổ chức tín dụng bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh, hoặc là một cam kết song phương và đa phương giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh và khách hàng được bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khác hàng khi khách hàng không thục hiện đúng nghĩa vụ của họ đối với bên nhận bảo lãnh.

Chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh ngân hàng thường tồn tại ba chủ thể tham gia vào quan hệ bảo lãnh ngân hàng: ngân hàng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Pháp luật Việt Nam có quy định tương đối cụ thể về các chủ thể này khi tham gia quan hệ bảo lãnh.

 

5. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.

Bảo lãnh ngân hàng là công cụ tiện ích được sử dụng rộng rãi để trợ giúp các giao dịch kinh tế; bảo lãnh ngân hàng có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế. Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu làm cho nền kinh tế ngày một phát triển. Nó có vai trò như­ một chất xúc tác làm điều hoà, xúc tiến hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể tin tưởng yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết. Bảo lãnh ngân hàng góp phần tăng cư­ờng mối quan hệ thư­ơng mại quốc tế giữa các quốc gia.

Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay.Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, 

Bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc để bư­ớc đầu giúp cho doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với hợp đồng. Ngoài ra, bảo lãnh giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm đ­ược khoản vay vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn l­ưu động và doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí t­ương đối thấp.