1. Khái niệm giao dịch dân sự.
Theo Điều 121 Bộ luật dân sự 2015 :
“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Sau khi giao dịch dân sự được xác lập và có hiệu lực, các chủ thể trong giao dịch cần thực hiện theo những nội dung đã thống nhất và được ghi nhận. Một trong những yêu cầu trong quá trình thỏa thuận và soạn thảo giao dịch dân sự là nội dung cần rõ ràng, được hiểu thống nhất. Tuy nhiên, trong quá trình xác lập, thực hiện giao dịch do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc thể hiện ý chí của chủ thể không được rõ ràng, chính xác. Bởi vậy, hoạt động giải thích giao dịch dân sự được đặt ra. Hoạt động giải thích giao dịch là công cụ xác định rõ ý chí của các bên trong trường hợp giao dịch còn có những nội dung không rõ ràng, khó hiểu hoặc được hiểu theo nhiều nghĩa. Hoạt động giải thích giao dịch dân sự sẽ giúp các bên làm rõ những nội dung còn chưa có cách hiểu chung, giải quyết những nội dung còn tồn tại sự bất đồng.
Chủ thể giải thích giao dịch dân sự trước hết chính là các bên trong giao dịch. Họ là những chủ thể nắm bắt rõ nhất nội dung của giao dịch. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các chủ thể trong giao dịch không thống nhất được cách hiểu đối với nội dung cần giải thích mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa là chủ thể có quyền giải thích giao dịch dân sự.
Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 dành riêng Mục 7 để quy định về họp đồng với các hợp đồng thông dụng gồm: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng vay tài sản, họp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, họp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng hợp tác và hợp đồng về quyền sử dụng đất. Khi các chủ thể giao kết hợp đồng với nhau thì quyền và nghĩa vụ được xác lập cho các bên chủ thể. Tùy theo từng loại hợp đồng cụ thể mà các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác lập tương ứng.
2. Đặc điểm của giao dịch dân sự.
- Là sự kiện pháp lý thuộc hành vi pháp lý, luôn thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể tham gia (ít nhất thể hiện ý chí trước của 1 bên hoặc cả hai bên).
- Là loại sự kiện pháp lý phổ biến nhất và quan trọng nhất làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
Giao dịch dân sự dù là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương đều có các đặc điểm sau đây:
Giao dịch dân sự luôn thể hiện ý chí của chủ thể trong giao dịch. Giao dịch dân sựđều là hành vi có ý thức của chủ thể tham gia nhằm đạt được những mục đích nhất định. Trường hợp giao dịch dân sự là hợp đồng thì đó là sự thể hiện và thống nhất ý chí của từ các bên chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương thì đó là sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể. Nội dung của giao dịch phải nhằm truyền tải những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thể. Ý chí là những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thể nên để xác lập giao dịch thì ý chỉ cần phải được thể hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định. Do đó, giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Thiếu sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu. Có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến ý chí và sự bày tỏ ý chí của chủ thể không thống nhất như trường hợp chủ thể bị nhầm lẫn, bị lừa dối hay cưỡng ép trong việc xác lập giao dịch.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự đều hướng đến phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi của một hay nhiều chủ thể nhằm hướng tới việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự gồm:
+ Một là, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giao dịch dân sự làm xác lập quyên và nghĩa vụ cho các bên chủ thể trong giao dịch.
+ Hai là, làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giữa các bên chủ trong giao dịch dân sự đã tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau nhưng các bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung qua đó làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của mình cũng như của bên kia; Ba là, làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giữa các bên chủ trong giao dịch dân sự đã tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau. Sau đó, các bên chủ thể xác lập giao dịch để làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đang tồn tại giữa các bên.
Một giao dịch dân sự được xác lập có thể làm phát sinh một hoặc nhiều hậu quả pháp lý. Điều này phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong giao dịch. Như vậy, giao dịch dân sự có hai đặc điểm chính: (i) giao dịch dân sự phải là sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia và (ii) sự thể hiện ý chí phải nhằm đạt được một hậu quả pháp lý nhất định.
3. Các loại giao dịch dân sự.
Có 2 loại giao dịch dân sự:
- Hành vi pháp lý đơn phương: là giao dịch thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm phát sinh quan hệ dân sự mà không cần ý chí của các chủ thể khác. Hành vi pháp lý đơn phương có thể do một hoặc nhiều chủ thể ở cùng một bên bày tỏ ý chí. Ví dụ: Lập di chúc chung.
Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có điều kiện do chủ thể bày tỏ ý chí đặt ra, phía bên kia phải đáp ứng mới làm phát sinh nghĩa vụ của bên bày tỏ ý chí đơn phương. Ví dụ: phát sinh nghĩa vụ trả lương.
- Hợp đồng dân sự: là giao dịch thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên chủ thể ở hai phía của giao dịch, làm phát sinh, thay đổi . chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: hợp đồng mua bán xe đạp.
=> Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hay hợp đồng đều có thể là giao dịch có điều kiện.
4. Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự.
Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý (hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lý. Tùy từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định.
Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội. Trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân sự (hợp đồng), các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày của mình.
5. Căn cứ giải thích ý nghĩa của giao dịch dân sự.
Khi giao dịch dân sự có nội dung không rõ ràng, khó hiểu, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì việc giải thích giao dịch dân sự đỏ được thực hiện theo thứ tự sau đây: 1. Theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch; 2. Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch; và 3. Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập.
Giải thích giao dịch dân sự theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch. Căn cứ giải thích này dựa trên ý chí của các bên chủ thể trong giao dịch. Đây là căn cứ được áp dụng trước tiên khi tiến hành giải thích giao dịch. Điều này hoàn toàn phù hợp bởi chính các chủ thể ừong giao dịch là người thỏa thuận xây dựng nội dung của giao dịch nên khi có nội dung cần giải thích thì trước hết phải căn cứ vào chính ý chí của họ. Hơn bất kỳ chủ thể nào khác, chủ thể trực tiếp tham gia giao dịch dân sự mới biết được suy nghĩ, mong muốn, nhu cầu đích thực của mình là gì. Căn cứ giải thích giao dịch dân sự theo ý chí đích thực của chủ thể trong giao dịch được áp dụng đối với cả trường hợp giải thích hợp đồng và giải thích hành vi pháp lý đơn phương nhưng với cách thức khác nhau: trường họp giao dịch dân sự là hợp đồng thì việc giải thích hợp đồng phải theo ý chí của các bên chủ thể giao kết hợp đồng; còn đối với hành vi pháp lý đơn phương như việc lập di chúc thì việc giải thích trước hết căn cứ vào ý chí của chủ thể xác lập hành vi pháp lý đơn phương.
Giải thích giao dịch dân sự theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch. Mục đích của giao dịch là lợi ích hợp pháp mà các bên chủ thể hướng tới khi xác lập giao dịch. Trong quá trình giao kết giao dịch dân sự các bên phải thể hiện rõ mục đích của mình. Khi giao dịch dân sự có những ngôn từ, nội dung không rõ ràng, mục đích giao dịch sẽ là công cụ được sử dụng để giải thích giao dịch. Tuy nhiên, căn cứ này chỉ được áp dụng khi không thể giải thích được giao dịch dân sự theo ý chí của các bên chủ thể trong giao dịch do các bên có các cách hiểu khác nhau và không thống nhất được.
Giải thích giao dịch dân sự theo tập quán nơi giao dịch được xác lập. Tập quán là thói quen sính hoạt tồn tại từ nhiều thế hệ và được thừa nhận ở mỗi địa phương, trong từng lĩnh vực sản xuất hoặc giữa những người cùng ngành nghề. Căn cứ giải thích giao dịch dân sự theo tập quán chỉ được áp dụng khi không thể giải thích được giao dịch dân sự theo ý chí và theo mục đích của giao dịch. Ngoài ra, để giải thích được giao dịch dân sự theo tập quán thì tại nơi xác lập giao dịch phải có tập quán tương thích để giải thích nội dung giao dịch còn vướng mắc. Tập quán áp dụng để giải thích hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái nguyên tắc chung của pháp luật và đạo đức xã hội.
Bên cạnh quy định chung về giải thích giao dịch dân sự, khoản 2 Điều 121 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn có quy định:
“Việc giải thích hợp đồng được thực hiện theo quy định tại Điều 404 của Bộ luật này; việc giải thích nội dung di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật này"
Đối với việc giải thích hợp đồng, Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định riêng như sau:
Một là, khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đông mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng. Căn cứ vào ý chí của chủ thể của hợp đồng cũng là căn cứ chung được ghi nhận để giải thích các giao dịch dân sự.
Hai là, khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của họp đồng.
Ba là, khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng. Đây cũng là căn cứ được áp dụng cho giải thích các giao dịch dân sự nói chung.
Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng. Trường họp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.
Đối với việc giải thích nội dung di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 648 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường họp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực.