1. Tổng quan
Chương này xem xét vai trò của nhánh tư pháp trong khuôn khổ nền dân chủ hợp hiến, tập trung vào những chủ đề liên quan đến sự phân định quyền tư pháp trong những nhà nước vốn có sự chia rẽ sâu sắc. Chức năng căn bản nhất của nhánh tư pháp là giải quyết tranh chấp và thực thi công lý thông qua việc áp dụng pháp luật đối với những vụ việc cụ thể. Để thực hiện chức năng đó và duy trì nguyên tắc pháp quyền, hệ thống tư pháp và các cơ quan tư pháp phải được thiết kế nhằm bảo đảm nền công lý có thể tiếp cận được và không có sự thiên vị. Chương này không có tham vọng bàn luận một cách toàn diện về tất cả các khía cạnh của việc thiết kế nhánh tư pháp, mà tập trung vào ba vấn đề chính yếu cần được hiến định: quyền lực tư pháp, trong đó có quyền kiểm hiến; sự độc lập của tư pháp và đa nguyên pháp luật. Với vai trò việc thực thi công lý, Hiến pháp thường trao cho tư pháp chức năng thi hành việc bảo vệ Hiến pháp. Chức năng này đôi khi đòi hỏi cần thực hiện chức năng giám sát các đối tượng, cơ quan công quyền khác cũng như giám sát các hoạt động nhà nước. Ví dụ, hầu hết các nhánh tư pháp được trao quyền tài phán hiến pháp (constitutional review), chức năng cho phép họ kiểm tra tính hợp hiến của các hành vi của nhánh lập pháp và hành pháp. Thông qua quá trình kiểm hiến, tư pháp thực hiện sự kiềm chế quan trọng mang tính hiến định đối với các nhánh quyền lực chính trị của chính quyền. Tuy nhiên, tư pháp hiếm khi có toàn quyền: hầu hết các hệ thống hiến pháp đều giới hạn sự độc lập của nhánh tư pháp ở một mức độ nào đó bằng việc cho phép các nhánh chính quyền khác có sự ảnh hưởng nhất định đối với nhánh tư pháp. Do đó, việc thiết kế nhánh tư pháp là một cơ hội quan trọng đối với nhà lập hiến để bảo vệ và bảo đảm sự thi hành của Hiến pháp. Bên cạnh đó, việc thiết kế nhánh tư pháp, cũng giống như các nhánh quyền lực khác, cần có sự cân nhắc cẩn trọng về mức cân bằng quyền lực hợp lý giữa các nhánh chính quyền. Cũng như vậy, thiết kế cấu trúc nhánh nội bộ nhánh tư pháp mà đặc biệt là kết hợp với hệ thống pháp lý đa nguyên, mang lại những cơ hội nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức.
2. Bối cảnh của quá trình xây dựng hiến pháp
Bối cảnh của quá trình xây dựng hiến pháp - hoàn cảnh và lịch sử quốc gia - cần phải được đặt tại vị trí trung tâm của việc thiết kế nhánh tư pháp. Những phần tiếp theo đây phác thảo những mô hình thiết kế hiến pháp khác nhau cho nhánh tư pháp, chỉ ra cho các nhà soạn thảo những vấn đề đáng lưu tâm. Sau khi phác thảo sơ lược những lựa chọn đó, chương này phân tích chúng thông qua lăng kính của hai nhân tố cấu thành nên khuôn khổ phân tích nền tảng của Tài liệu này. Thứ nhất là việc thiết kế nhánh tư pháp có theo hướng phi tập trung hóa quyền lực hay tập trung hóa quyền lực nhà nước (disaggregate or centralize governmental power), ở cả nhánh tư pháp lẫn các nhánh quyền lực khác. Thứ hai là trong khi thi hành tư pháp có thể được xem như là hình thức bảo vệ pháp lý tinh túy nhất và là khiên đỡ cuối cùng chống lại sự xâm phạm quyền của cá nhân, điều quan trọng cần nhớ là những lực lượng chính trị luôn hiện diện trong tất cả các nhánh quyền lực và trong bộ máy chính quyền. Mặc dù thẩm phán được yêu cầu phải đưa ra những quyết định chỉ trên cơ sở thực thi hiến pháp và luật, nhưng thẩm phán cũng là con người, với những kinh nghiệm và niềm tin riêng – nhữ ng yếu tố gần như không thể tách bạch hoàn toàn trong quá trình giải thích và áp dụng pháp luật của thẩm phán. Do đó, các lựa chọn cũng cần phải được xem xét dưới lăng kính của cả những tác nhân chính trị và pháp lý có khả năng định hình chức năng của tư pháp và tạo sự ảnh hưởng tới nhánh tư pháp. Để đạt tới sự cân bằng tối ưu về quyền lực, các nhà lập hiến phải xem xét cẩn trọng cả yếu tố mục tiêu và bối cảnh. Chương này không đưa ra một mô hình duy nhất áp dụng cho tất cả các hệ thống mà thảo luận một vài yếu tố cơ bản của việc thiết kế nhánh tư pháp, mỗi yếu tố được xem xét dưới góc độ ưu điểm và nhược điểm của nó. Ngoài ra, khi xem xét nhánh tư pháp, các nhà lập hiến phải lưu ý rằng trong khi những nguyên tắc được thảo luận dưới đây có thể có sự hữu ích nào đó, việc đạt được những mục tiêu cụ thể - ví dụ sự độc lập tư pháp, có thể đòi hỏi phải được xem xét kỹ lưỡng hơn về bố cục và cấu trúc của toàn bộ bản hiến pháp đối với cả những nội dung ngoài nội dung về nhánh tư pháp. Nói cách khác, không một nhánh chính quyền đơn lẻ nào có thể vận hành tách biệt. Phần lớn các ví dụ được đưa ra là để thảo luận những quy định hiến pháp minh thị trao quyền cho nhánh tư pháp. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ rằng việc thiếu vắng những quy định trao quyền minh thị trong hiến pháp không đồng nghĩa với việc nhánh tư pháp không có thẩm quyền tài phán.
3. Quyền lực tư pháp có thể được thiết lập bằng các đạo luật
Quyền lực tư pháp có thể được thiết lập bằng các đạo luật, đặc biệt trong các nước theo thông luật, nó có thể được xác lập thông qua hệ thống án lệ. Chẳng hạn, một số bản hiến pháp không điều chỉnh trực tiếp vấn đề tài phán hiến pháp của Tòa án, nhưng quyền lực này vẫn được thực thi bởi Tòa án và được coi như hoạt động có hiệu lực về mặt hiến pháp. Trong vụ án kinh điển Marbury kiện Madison, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã thiết lập một cách vững chắc tính hợp hiến của quyền tài phán hiến pháp của tòa án, hay còn được biết dưới cái tên quyền kiểm hiến, như là một hệ quả logic của sự phân chia quyền lực trong hiến pháp. Vì vậy, các nhà lập hiến phải thận trọng xem xét không chỉ các điều khoản minh thị trong hiến pháp, mà cả những thực tế, truyền thống và các tiền lệ đã được chấp nhận hoặc được cho phép, cũng như những hệ quả có thể có từ bố cục hiến pháp và những nguyên tắc được phản ánh trong hiến pháp đó. Các điều khoản hiến pháp không vận hành một cách cô lập mà tương tác với những điều khoản hiến pháp khác, những nguồn luật khác cũng như các tình huống có liên quan, cả về mặt lịch sử và chính trị, trong bối cảnh xã hội của nước đó. Chuẩn mực xã hội và truyền thống cũng như những nguồn luật khác - như luật thành văn, thông luật, tập quán hoặc thói quen - sẽ có thể đưa ra thông tin về ngữ nghĩa, cách hiểu được chấp nhận chung và về sự thi hành những điều khoản hiến pháp cụ thể.
4. Nhánh tư pháp: Những ý tưởng nền tảng
Nhánh tư pháp là nhánh quyền lực có chức năng truyền thống là giải thích luật – hơn là “tạo ra” hoặc thi hành luật. Trong các bản hiến pháp hiện đại, chức năng này có thể bao hàm nhiều quyền lực, nhưng ở mức độ căn bản nhất, là quyền của tư pháp trong việc giải quyết các tranh chấp và thực thi công lý bằng việc xem xét các tình tiết và sau đó áp dụng luật thực định đối với những tình tiết đó. Kiểm hiến là hòn đá tảng của quyền lực tư pháp trong hầu hết các nền dân chủ hiện đại. Kiểm hiến đặt ra yêu cầu cần bảo đảm rằng luật và các hành vi của chính quyền phải tuân thủ hiến pháp, cho dù nội dung luật và các hành vi đó liên quan đến vấn đề thẩm quyền của chính quyền để hành động, đến cấu trúc chính quyền, đến sự phân chia quyền lực hay những điều bị cấm thực hiện như vi phạm quyền tự do cá nhân được ghi nhận bởi Hiến pháp. Phạm vi quyền tài phán, cũng như sự liên quan của các nhánh quyền lực khác, rất đa dạng. Tư pháp hiện đại cũng thực hiện một số quyền lực khác, rất nhiều trong số đó cấu thành nên cơ chế kiểm chế các nhánh quyền lực khác hoặc các cơ chế giám sát khác, có thể bao gồm những quyền lực như khả năng chi phối, điều hành việc bầu cử hoặc các đảng phái chính trị. Bảo đảm sự độc lập của tư pháp là yếu tố thiết yếu để gìn giữ pháp quyền và để bảo đảm một hệ thống tòa án thực hiện đúng chức năng của mình và vô tư không thiên vị. Đồng thời, hiến pháp phải thúc đẩy xây dựng hệ thống tư pháp có khả năng chịu trách nhiệm và minh bạch. Việc thiết kế nhánh tư pháp cần phải được xem xét để duy trì sự cân bằng giữa những giá trị đôi khi đối lập, cạnh tranh nhau này. Việc thiết kế phải có thể bao hàm nội dung thúc đẩy tính rõ ràng và đồng nhất về thủ tục và chuẩn mực tư pháp, quyền được xét xử công khai và khả năng tiếp cận các thông tin tư pháp cũng như cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của tư pháp, như hoạt động của hệ thống tòa phúc thẩm, và sự giám sát của những nhánh quyền lực khác dưới dạng thức quy trình bổ nhiệm (thẩm phán) và bãi nhiệm (thẩm phán). Vấn đề cốt yếu trong việc xác định cơ chế nào sẽ vận hành thành công để đạt tới sự cân bằng nằm ở bối cảnh xã hội mà hiến pháp đó được thực thi.
5. Đa nguyên pháp luật
Đa nguyên pháp luật (legal pluralism) khuyến khích sự vận hành của nhiều hệ thống pháp luật trong cùng một trật tự hiến pháp. Nói cách khác, nó tạo ra khả năng cho phép kết hợp những quy phạm và hệ thống pháp luật đã có vào trật tự hiến pháp đó và cung cấp sự tự chủ pháp lý cho những nhóm người bản xứ và các nhóm tôn giáo. Tuy nhiên, đa nguyên pháp lý cũng đặt ra một câu hỏi quan trọng về thẩm quyền tài phán ở mỗi hệ thống đó và thứ bậc pháp lý của các hệ thống pháp luật trong trật tự hiến pháp đó. Đa nguyên pháp lý cũng đưa ra những thách thức lớn đối với việc thi hành các quyền hiến pháp xuyên suốt tất cả các hệ thống pháp luật đó. Việc đạt được những mục tiêu cụ thể - ví dụ sự độc lập tư pháp, có thể đòi hỏi phải được xem xét kỹ lưỡng hơn về bố cục và cấu trúc của toàn bộ bản hiến pháp đối với cả những nội dung ngoài nội dung về nhánh tư pháp. Không một nhánh quyền lực nào có thể hoạt động tách biệt được.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )