Căn cứ vào Điều 23 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày hai bên giao kết, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Như vậy, việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi đây là thời điểm bắt đầu phát sinh quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động theo hợp đồng lao động đã giao kết.
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động có thể xác định được khoảng thời gian tồn tại và thời điểm kết thúc của hợp đồng lao động xác định thời hạn; đây là cơ sở để người sử dụng lao động quyết định ngày nghỉ hằng năm, thời điểm kết thúc hợp đồng lao động...
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật về vấn đề này như sau:
1. Khái quát về hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Hợp đồng lao động bao gồm các loại hợp đồng sau: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu như: công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động.
Hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày giao kết hoặc từ ngày do hai bên thỏa thuận hoặc từ ngày người lao động bắt đầu làm việc.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động các bên ký kết có thể thỏa thuận sửa đổi nội dung của hợp đồng lao động. Trong trường hợp có sự thay đổi một trong những nội dung chủ yếu về điều kiện lao động thì người lao động có quyền ký kết hợp đồng lao động mới.
2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động
Căn cứ theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày hai bên giao kết, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Trên thực tế, có không ít trường hợp khi ký hợp đồng lao động hai bên thỏa thuận ngày có hiệu lực của hợp đồng lao động sau ngày ký hợp đồng. Trong trường hợp này, ngày phát sinh hiệu lực của hợp đồng lao động không phải là ngày giao kết hợp đồng lao động mà là ngày do hai bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động.
Trong trường hợp cụ thể, nhà nước cũng có thể can thiệp trực tiếp vào thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng sau ngày ký hợp đồng. Trong trường hợp này, ngày phát sinh hiệu lực của hợp đồng lao động không phải là ngày giao kết hợp đồng lao động mà là ngày do hai bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động.
Trong trường hợp cụ thể, nhà nước cũng có thể can thiệp trực tiếp vào thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng lao động để đảm bảo quyền lợi của các bên trong hợp đồng lao động và lợi ích chung của xã hội, chẳng hạn như trường hợp người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động nhưng trên thực tế người sử dụng lao động đã nhận người lao động vào làm việc một thời gian mới ký hợp đồng lao động. Trong trường hợp này thông thường người sử dụng lao động phải chấp nhận hợp đồng lao động phát sinh hiệu lực kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 151 Bộ luật Lao động thì thời hạn của hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không được vượt quá thời hạn của giấy phép lao động. Khi sử dụng người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, hai bên có thể thỏa thuận có thể giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn.
Như vậy, trường hợp người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động thì thời hạn của hợp đồng lao động phải phù hợp với thời hạn của giấy phép lao động.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định 152/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, trường hợp người lao động nước ngoài làm việc theo hình thức hợp đồng lao động thì sau khi người lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động, người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam trước ngày dự kiến làm việc cho người sử dụng lao động.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 156 Bộ luật Lao động thì giấy phép lao động hết hiệu lực khi nội dung của hợp đồng lao động không đúng với nội dung của giấy phép lao động đã được cấp.
3. Điều kiện để hợp đồng lao động có hiệu lực
3.1 Về chủ thể giao kết hợp đồng lao động:
- Đối với người sử dụng lao động: Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động phải là các chủ thể sau:
+ Người địa diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã; Theo quy định của luật Doanh nghiệp thì một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều người đại diện do đó trong trường hợp có nhiều người đại diện thì chỉ cần một người đứng ra giao kết hợp đồng lao động.
+ Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật
+ Chủ hộ gia đình
+ Cá nhân đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật đầy đủ trực tiếp sử dụng lao động
+ Trường hợp người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động trên không trực tiếp giao kết hợp đồng lao động thì ủy quyền hợp pháp bằng văn bản cho người khác giao kết hợp đồng lao động theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
- Đối với người lao động: Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động phải là các chủ thể sau:
+ Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên.
+ Người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi và có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người lao động.
+ Người địa diện theo pháp luật đối với người dưới 15 tuổi và có sự đồng ý của người dưới 15 tuổi.
+ Người lao động được những người lao động trong nhóm ủy quyền hợp pháp giao kết hợp đồng lao động.
3.2 Về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động:
Hai bên khi giao kết hợp đồng lao đồng cần dựa trên những nguyên tắc sau:
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
- Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
3.3 Về nội dung của hợp đồng lao động:
Nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động phải bao gồm những nội dung như sau:
- Tên và địa chỉ của người sử dụng lao động hoặc người đại diện hợp pháp
- Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ pháp lý khác của người lao động.
- Công việc và địa điểm làm việc (lưu ý: Công việc phải là công việc mà pháp luật không cấm thực hiện)
- Thời hạn của hợp đồng lao động
- Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
- Chế độ nâng bậc, nâng lương
- Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi. Theo đó thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần; thời gian nghỉ giữa giờ khi làm việc bình thường ít nhất 30 phút; nếu làm việc vào ban đêm thì nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút.
- Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
3.4 Về hình thức của hợp đồng lao động:
Hợp đồng lao động có hai hình thức: bằng văn bản và bằng lời nói; tùy thuộc vào từng loại hợp đồng mà hợp đồng lao động được thể hiện dưới một trong hai hình thức trên, cụ thể như sau:
- Hợp đồng lao động đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói
- Những hợp đồng còn lại có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên đều phải giao kết bằng văn bản; hợp đồng lao động sẽ được lập thành 02 bản; người lao động giữ 01 bản; người sử dụng lao động giữ 01 bản
- Đối với công việc giúp việc gia đình theo quy định của pháp luật bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải giao kết với nhau hợp đồng lao động bằng văn bản.
Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác ! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn !