1. Thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính là bao lâu?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, thời gian lập biên bản vi phạm hành chính được xác định cụ thể như sau:
- Thời hạn lập biên bản thông thường: Biên bản vi phạm hành chính phải được lập trong vòng 02 ngày làm việc kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm. Đây là thời hạn tối đa cho các trường hợp thông thường, giúp đảm bảo sự nhanh chóng và kịp thời trong việc xử lý vi phạm.
- Trường hợp có tình tiết phức tạp hoặc phạm vi rộng: Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp hoặc phạm vi vi phạm rộng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức liên quan, thời hạn lập biên bản được gia hạn đến 05 ngày làm việc kể từ khi phát hiện vi phạm. Sự gia hạn này nhằm giúp các cơ quan có thẩm quyền có thêm thời gian để xem xét, xác minh kỹ lưỡng nhằm đảm bảo tính chính xác và công bằng trong việc xử lý.
- Trường hợp cần sử dụng phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ hoặc giám định: Nếu hành vi vi phạm hành chính được phát hiện thông qua các thiết bị kỹ thuật hoặc cần xác minh giá trị của tang vật, phương tiện liên quan, hoặc đòi hỏi các bước giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm, thì biên bản vi phạm hành chính phải được lập trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm thông qua các thiết bị kỹ thuật, hoặc nhận được kết quả kiểm định và xác minh các tình tiết liên quan. Quy định này đảm bảo rằng những trường hợp phức tạp về mặt kỹ thuật sẽ có đủ thời gian để thu thập thông tin cần thiết.
- Trường hợp vi phạm xảy ra trên các phương tiện vận tải như tàu bay, tàu biển, tàu hỏa: Khi vi phạm hành chính xảy ra trên các phương tiện vận tải, người có thẩm quyền lập biên bản hoặc người chỉ huy, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm lập biên bản và chuyển đến người có thẩm quyền xử phạt trong vòng 02 ngày làm việc kể từ khi phương tiện quay về sân bay, bến cảng, hoặc nhà ga. Điều này giúp bảo đảm tính liên tục trong việc xử lý vi phạm khi các phương tiện di chuyển ngoài phạm vi đất liền.
- Trường hợp một vụ việc bao gồm nhiều hành vi vi phạm khác nhau: Trong trường hợp một vụ việc có nhiều hành vi vi phạm hành chính, trong đó có hành vi được phát hiện bằng các thiết bị kỹ thuật hoặc cần giám định và kiểm định, biên bản vi phạm sẽ được lập trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi xác định được đối tượng vi phạm hoặc nhận đủ kết quả từ quá trình xác minh, giám định. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý đồng bộ các hành vi vi phạm trong cùng một vụ việc.
Như vậy, thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính có sự điều chỉnh linh hoạt tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của vụ việc, từ 02 đến 05 ngày làm việc. Quy định này nhằm đảm bảo việc lập biên bản vi phạm hành chính được thực hiện kịp thời, chính xác và phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng trường hợp.
2. Hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?
Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, quá trình hủy bỏ hoặc ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành như sau:
Hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Người đã ban hành quyết định xử phạt có thể tự mình hủy bỏ hoặc hủy bỏ theo yêu cầu của các cá nhân có quyền, theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nếu quyết định xử phạt rơi vào một trong các trường hợp sau đây:
- Quyết định được ban hành không áp dụng đúng đối tượng vi phạm;
- Có sai sót về thẩm quyền ban hành, tức là người ra quyết định không đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
- Quy trình, thủ tục ban hành quyết định không tuân thủ đúng quy định pháp luật;
- Các trường hợp cụ thể được quy định tại khoản 1, khoản 6, khoản 10 Điều 12, hoặc khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Không ra quyết định xử phạt khi có nghĩa vụ phải làm vậy, như được quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Quyền hạn của các cá nhân có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính: Nếu người đã ban hành quyết định xử phạt không tiến hành hủy bỏ quyết định khi có yêu cầu và thuộc một trong các trường hợp nêu trên, thì những người có thẩm quyền có thể ra quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định vi phạm hành chính.
Ban hành quyết định mới khi có căn cứ cần thiết: Trong các trường hợp đã nêu tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 1, nếu có đủ cơ sở để ra quyết định mới, người đã ban hành quyết định trước đó có trách nhiệm ban hành quyết định mới hoặc chuyển cho người có thẩm quyền để ban hành quyết định mới. Việc ban hành quyết định mới sẽ đảm bảo đúng đối tượng và tuân thủ thẩm quyền, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.
Xử lý tang vật, phương tiện cấm tàng trữ hoặc lưu hành: Đối với các vi phạm có tang vật, phương tiện bị cấm tàng trữ hoặc lưu hành, hoặc khi pháp luật quy định phải áp dụng hình thức tịch thu hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển thẩm quyền để ban hành quyết định mới. Quyết định này có mục đích tịch thu và xử lý tang vật, phương tiện vi phạm theo đúng pháp luật.
Tóm lại, quy định tại Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP đã chỉ rõ các trường hợp và quy trình cụ thể mà người có thẩm quyền phải tiến hành hủy bỏ hoặc ra quyết định mới trong quá trình xử lý vi phạm hành chính. Điều này đảm bảo các quyết định được ban hành đúng đối tượng, tuân thủ thẩm quyền và thủ tục, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức.
>> Xem thêm: Mẫu biên bản vi phạm hành chính mới nhất đang áp dụng
3. Đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp nào?
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, việc điều chỉnh, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện như sau:
- Đính chính sai sót kỹ thuật trong quyết định xử phạt: Người đã ban hành quyết định xử phạt có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu của các cá nhân có thẩm quyền, quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thực hiện đính chính quyết định nếu phát hiện có lỗi kỹ thuật trong soạn thảo. Đây là những lỗi nhỏ, không làm thay đổi bản chất của quyết định nhưng cần được sửa đổi để đảm bảo tính chính xác, minh bạch và tránh hiểu nhầm.
- Sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần quyết định do sai sót hoặc vi phạm: Trong trường hợp quyết định có sai sót hoặc vi phạm nhưng không thuộc các trường hợp yêu cầu hủy bỏ toàn bộ quyết định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định 118/2021/NĐ-CP, người đã ban hành quyết định, hoặc theo yêu cầu của những người có thẩm quyền, phải thực hiện sửa đổi, bổ sung, hoặc hủy bỏ phần quyết định liên quan. Việc này đảm bảo rằng các biện pháp xử phạt được áp dụng phù hợp với quy định pháp luật, chính xác và phù hợp với thực tế vi phạm.
- Lưu trữ quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần trong hồ sơ xử phạt: Tất cả các quyết định liên quan đến việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hoặc hủy bỏ một phần đều phải được lưu lại trong hồ sơ xử phạt. Điều này giúp tạo ra một hồ sơ chi tiết, minh bạch, phản ánh đầy đủ quá trình xử lý vi phạm hành chính, giúp thuận lợi cho việc kiểm tra, theo dõi và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.
Như vậy, người có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt phải thực hiện đính chính khi có lỗi kỹ thuật trong quá trình soạn thảo. Đồng thời, nếu quyết định ban hành có sai sót hay vi phạm mà không thuộc các trường hợp phải hủy bỏ toàn bộ, thì người có thẩm quyền cần tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần nội dung quyết định đó. Tất cả các điều chỉnh này phải được lưu vào hồ sơ để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý hành chính.