1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự là gì?

Về mặt lý thuyết, các bản án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh. Vì vậy, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Công an phải thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình để bảo đảm cho những người bị kết án phải chấp hành đầy đủ các quyết định của bản án. Tuy nhiên, trên thực tế, do những bất cập của cơ quan thi hành án nên một số bản án bị lãng quên hoặc bị thất lạc, không được thi hành. Nếu người bị kết án đã sống lương thiện, không phạm tội mới hoặc trốn tránh pháp luật trong một thời gian đáng kể thì có thể không cần buộc họ phải chấp hành bản án. Do đó, pháp luật quy định thời hạn thi hành bản án hình sự là thời hạn có hiệu lực thi hành. Nếu hết thời hạn này mà không thi hành án thì bản án sẽ không được thi hành nữa. Ngược lại, nếu người bị kết án tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội mới, trốn tránh pháp luật, không tỏ ra ăn năn và tiếp tục lẩn tránh thì chắc chắn sẽ thuộc đối tượng xử lý theo quy định của pháp luật. Quy định này phản ánh bản chất nhân đạo của chế đinh pháp luật của chúng ta đối với những người đã bị kết án.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là khoảng thời gian mà theo quy định của Bộ luật hình sự, người bị kết án và pháp nhân thương mại bị kết án không cần phải thực hiện bản án đã được tuyên. Thời hiệu thi hành bản án, theo Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017, là thời gian giới hạn để thi hành bản án hình sự liên quan đến quyết định hình phạt. Đối với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản, thì thời hiệu thi hành bản án được xác định theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự đặt ra giới hạn thời gian để buộc các đối tượng bị kết án phải thực hiện bản án có hiệu lực pháp luật. Thời gian này phụ thuộc vào đối tượng bị kết án, loại và mức hình phạt đã được tuyên. Tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, thời hiệu thi hành bản án hình sự là: 5 năm đối với các trường hợp phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù dưới 3 năm; 10 năm đối với các trường hợp phạt tù từ 3 đến 15 năm; 15 năm đối với các trường hợp phạt tù từ 15 đến 30 năm; 20 năm đối với các trường hợp phạt tù chung thân hoặc tử hình. Sau thời hạn trên, nếu người bị kết án tuân thủ luật định và không phạm tội mới, không trốn tránh, thì không còn nghĩa vụ thi hành bản án. Ngược lại, nếu vi phạm các điều kiện trên, thời hiệu thi hành bản án sẽ được tính lại từ ngày vi phạm tội mới hoặc từ ngày ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Cố tình trốn tránh được định nghĩa là cố ý che giấu địa chỉ, ẩn náu, trốn ra nước ngoài, thay đổi họ tên, hình dạng, gây khó khăn cho cơ quan truy cứu trách nhiệm. Trong trường hợp bản án kết hợp nhiều tội, thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính theo hình phạt chung. Đối với pháp nhân thương mại bị kết án, thời hiệu thi hành bản án là 5 năm, và nếu trong thời gian này họ vi phạm tội mới, thời hiệu sẽ được tính lại từ ngày vi phạm.

2. Trường hợp không áp dụng thời hiệu thi hành bản án

Điều 61 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017, quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu thi hành bản án như sau: không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội được mô tả tại Chương XIII và Chương XXVI, cụ thể là khoản 3 và khoản 4 của Điều 353, cũng như khoản 3 và khoản 4 của Điều 354 của Bộ luật này.

Các tội mà Chương XIII quy định là những tội xâm phạm an ninh quốc gia. An ninh quốc gia trong ngữ cảnh này được định nghĩa là sự ổn định và phát triển bền vững của nhà nước, sự bất khả xâm phạm của độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. An ninh quốc gia bao gồm nhiều khía cạnh như an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng-văn hóa, an ninh xã hội, an ninh quốc phòng, và nhiều khía cạnh khác. Do đó, tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia ám chỉ những hành vi có chủ đích làm ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng như làm xâm phạm sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

Các tội mà Chương XXVI quy định bao gồm các tội phá hoại hòa bình, chống lại nhân loại và tội phạm chiến tranh. Đây là những hành vi đặc biệt nguy hiểm, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm các quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế công nhận và bảo vệ, cũng như làm xâm phạm chủ quyền quốc gia, hòa bình và an ninh của nhân loại, đồng thời làm đe dọa đến những lợi ích cơ bản của con người và những giá trị cốt lõi của cộng đồng quốc tế.

3. Thời hiệu thi hành bản án đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 với các khung hình phạt tương ứng với mức độ của hành vi phạm tội. Theo đó, thời hiệu thi hành bản án đối với các khung cũng khác nhau, cụ thể như sau:

+ Khung 1: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tài sản của người khác có giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng, nhưng đã bị xử phạt về vi phạm hành chính liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội theo các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật Hình sự, có án tích nhưng chưa được xóa và vẫn tiếp tục vi phạm hoặc tài sản đó là phương tiện chính để người bị hại và gia đình của họ kiếm sống, thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng từ 06 tháng đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác thông qua hợp đồng, sau đó sử dụng thủ đoạn gian lận hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Hoặc đến thời điểm phải trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện và khả năng, nhưng cố ý không trả lại; Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác thông qua hợp đồng và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không khả năng trả lại tài sản. Đối chiếu với điểm a khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thì thời hiệu thi hành bản án với khung hình phạt này là 5 năm.

+ Khung 2: Phạm tội trong một trong những trường hợp: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tái phạm nguy hiểm thì sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Đối chiếu với điểm b khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thì thời hiệu thi hành bản án với khung hình phạt này là 10 năm.

+ Khung 3: Bị phạt từ từ 5 đến 12 năm với trường hợp phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Với khung hình phạt này thì thời hiệu thi hành bản án với khung hình phạt này cũng là 10 năm.

+ Khung 4: Bị phạt tù từ 12 đến 20 năm nếu phạm tội chiếm đoạt tài sản  trị giá 500.000.000 đồng trở lên. Đối chiếu với điểm b, c khoản 2 Điều 60 thì thời hiệu thi hành bản án là 10 đến 15 năm.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Thời hiệu thi hành bản án, quyết định của tòa án là gì ?. Nếu cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!