1. Cách khởi kiện, tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản ?

Em chào luatminhkhue, Em xin hỏi về cách thảo văn bản thưa kiện về cho vay, hiện tại có 1 người em cho họ vay số tiền 80 triệu với lãi xuất là 5% trên tháng. Trong mấy tháng đầu người ngày đóng đúng hẹn và sau một thời gian sau thì người này không đóng lãi và có ý định trốn đi nơi khác.
Vậy em xin hỏi là nếu em muốn thưa người này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì em nên làm theo cách nào. Hiện tại em có giữ những tờ đơn cho vay chính người này ký nhưng trong đơn em không ghi mức lãi % cho vay là 5% chỉ thỏa thuận ngoài miệng là 5% thôi ?
Xin cảm ơn luatminhkhue!
- Nguyễn Phước A

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Nôi dung mà bạn thỏa thuận với người kia là thỏa thuận dân sự nên hai bên có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật dân sự, trong trường hợp này buộc người vay tiền của bạn có trách nhiệm trả tiền cho bạn theo thỏa thuận trong giấy vay nợ hai bên đã ký. Căn cứ theo Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thì người kia phải trả nợ cho bạn đúng thời gian, số tiền gốc và cả lãi nếu có.

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Thứ hai: Trường hợp người kia không muốn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ với bạn mà có dấu hiệu bỏ trốn thì căn cứ theo quy định pháp luật cũng như sự việc này diễn ra ở mức độ như thế nào căn cứ vào đấy hoàn toàn có thể yêu cầu cơ quan tố tụng khởi tố vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật hình sự. Theo yêu cầu của bạn Luật sư xin tư vấn cho bạn như sau: Bạn có thể làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án gửi cho cơ quan công an điều tra hoặc viện kiểm sát nơi người vay tiền bạn cư trú. Cơ quan tố tụng sẽ căn cứ vào đơn yêu cầu của bạn từ đó có phương án điều tra xác minh nội dung sự việc. Căn cứ theo Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

"Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tiếp nhận khởi tố.

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thầm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố."

Từ nội dung tư vấn và căn cứ pháp lý như trên hy vọng bạn đã rõ về quy định pháp luật liên quan đến sự việc của mình, chúc bạn có phương án giải quyết tốt nhất vấn đề mà mình đang vướng phải.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vận chuyển tiền trái phép phạt bao nhiêu năm tù ? Xử lý khi chuyển tiền mà không nhận được hàng ?

2. Chậm trả tiền ngân hàng có phải là chiếm đoạt tài sản không ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi xin được giải đáp như sau: Em có một người bạn có nhờ ngân hàng hỗ trợ vay vốn với số tiền góp hàng tháng là 1.842.000 vnd. Nhưng giờ bạn em đóng trễ thì ngân hàng gửi đơn kiện. Như vậy thì bạn em có bị xem là vi phạm tội chiếm đoạt tài sản không ?
Cảm ơn!

Chậm trả tiền ngân hàng có phải là chiếm đoạt tài sản không?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 174 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội.

Như vậy, theo như bạn trình bày thì bạn của bạn không hề có hành vi "nhằm chiếm đoạt tài sản" mà chỉ có hành vi chậm trả tiền cho ngân hàng. Do đó, khi bạn của bạn bị ngân hàng khởi kiện thì bạn của bạn sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo đúng quy định tại Điều 357 Bộ Luật dân sự 2015 như sau:

Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

3. Phân biệt tội tham ô và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, A được phân công làm chuyên viên khách hàng Dịch vụ Chợ thuộc phòng giao dịch huyện của Ngân hàng Thương mại cổ phần. Nhiệm vụ của A là phụ trách công tác thẩm định, đề xuất cho vay, thu nợ góp hàng ngày của các tiểu thương tại cá chợ trên địa bàn được phân công. theo quy định sau khi thu nợ góp hàng ngày A phải nộp vào Ngân quỹ của phòng giao dịch.
Tuy nhiên, trong thời gian từ tháng 12/2010 đến t3/2011, A đã lợi dụng nhiệm vụ được phân đi thu tiền trả góp của các tiểu thương nhưng không đăng nộp đầy đủ vào ngân quỹ theo quy định mà chiếm đoạt với tổng số tiền là 405.843.500đ và sử dụng vào mục đích cá nhân.Tôi đang băn khoăn giữa tôi tham ô tài sản và tôi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Cải Bắp

Trả lời:

Tội tham ô tài ản được quy định tại điều 278 Bộ luật hình sự :

Điều 353. Tội tham ô tài sản
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;
e) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;
g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Phân biệt 2 tội này :

Lạm dụng tín nhiệm tài sản là hành vi cố ý dịch chuyển 1 cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm.Dấu hiệu của tội phạm này như sau: Người phạm tội có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và kết quả là người phạm tội có quyền về tài sản một cách hợp pháp.Như vậy trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội đã có tài sản hợp pháp bằng một hợp đồng khác với các tội phạm khác, người phạm tội chỉ có thể có tài sản sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt.Sau khi có tài sản người phạm tội đã không thực hiên nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng mà có ý chiếm đoạt tài sản đó bằng một trong các thủ đoạn: Gian dối; bỏ trốn; sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.Chủ thể của tội phạm này là người đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS.

Tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trong những trường hợp luật định.Dấu hiệu của tội phạm này như sau: Người phạm tội đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình quản lí, tức chiếm giữ tài sản để sử dụng, định đoạt cho riêng mình làm mất đi một khối lượng tài sản nhất định của nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức mà người đó quản lí.Chủ thể của tội phạm nà thuộc chủ thể đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lí tài sản.

Ở tình huống của bạn, A lợi dụng chức vụ chiếm đoạt với tổng số tiền là 405.843.500đ .Vậy A phạm tội tham ô tài sản.

Ý kiến bổ sung:

Trước hết cần phải phân biệt giữa tội tham ô và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

*Theo quy định tại Điều 175 Bộ Luật Hình sự 2015 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản....

Như vậy, A đã lợi dụng nhiệm vụ được phân đi thu tiền trả góp của các tiểu thương nhưng không đăng nộp đầy đủ vào ngân quỹ theo quy định mà chiếm đoạt với tổng số tiền là 405.843.500đ và sử dụng vào mục đích cá nhân. ở đây A có đủ dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lí. A phạm vào tội tham ô tài sản theo quy định tại điều 278 BLHS, số tiền A tham ô là hơn 400.000.000, vậy chiếu theo khoản 3 điều này, A có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 15 năm.

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

4. Làm sao để tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, Xin cho tôi hỏi Một người mượn tên anh trai là A để đi làm một công ty bảo hiểm nhân thọ,sau đó tư vấn cho khách hàng là B về một sản phẩm của cty, vì khách hàng B tin tưởng (do trước đó đã kí với gđ khách hàng B đó rất nhiều hợp đồng) nên đã mua sản phẩm đó và đã gửi tiền vào sản phẩm đó với tổng số tiền là 650 triệu(gửi nhiều lần ).nhưng đại lý A đó ko đem số tiền của k/h B đó nộp vào cty mà lấy làm công việc riêng .Do đó đại lý A đó đã phạm tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân.
Vậy người cho đại lý A đó mượn tên có liên quan hay không?

Luật sư tư vấn:

Đối với những đại lý của các công ty bảo hiểm nhân thọ phải cung cấp thông tin cơ bản về nhân thân, đủ điểu kiện mới trở thành đại lý bảo hiểm. Khi không làm đại lý của công ty bảo hiểm nữa, người đại lý phải trả lại thẻ đại lý, các giấy tờ, tài liệu liên quan cho công ty và không được đại diện công ty ký kết các hợp đồng bảo hiểm.

Nếu việc mượn tên mà anh A có biết và để mặc cho hậu quả xảy ra thì A có liên đới chịu trách nhiệm. Nếu A chứng minh được mình không trực tiếp ký hợp đồng với khác, không biết gì về việc em mình mượn tên, ký hợp đồng với khách hàng, thu tiền của khách hàng và không nộp về công ty bảo hiểm thì A không phải chịu trách nhiệm.

Tôi là vợ liệt sĩ chống mỹ năm nay tôi 83 tuổi. Tôi có 4 người con. Hai gái hai trai. Con gái đầu và con gái út đã đi chồng cuộc sống ổn định! Con trai đầu của tôi đã mất . Vợ nó đi bước nữa. Còn con gái nó sống với tôi ,tôi đã nuôi nó tới khi lập gia đình. Vi gđ no khó khăn đất đai ở chật hẹp nên tôi muốn chia cho nó phần đất của bố nó. Con trai thứ hai của tôi cất giữ sổ đỏ.và cương quyết không đưa cho tôi. Không muốn tôi chia chác cho con cho cháu. Tôi đã phải nhờ tới UBND xã can thiệp đến 4~5 lần nhưng con tôi vẫn cương quyết không chịu hợp tác. Sổ đỏ của tôi lại mang tên không chính xác vì thời xưa thiếu hiểu biết và cũng không được hướng dẫn cụ thể nên đã khai tên trong sổ đỏ lấy họ và tên của chồng. Nay tôi đã làm rất nhiều đơn gủi ra UBND xã để nhờ giải quyết nhưng mặc dù nhiều đơn như vậy xã cũng chỉ giải hòa và không thành công. Nhân dịp co đợt làm lại sổ đỏ cho nd trong xã tôi đã làm đơn thay đổi tên trong sổ đỏ nhưng xã gợi ý là như thế vẫn phải có sổ đỏ gốc mới được. Đã 3~4 năm nay rồi tôi muốn chia cho cháu nội tôi một ít đất mà vẫn chưa được, chỉ vì con trai thứ hai của tôi gây khó dễ.không chịu đưa sổ đỏ cho tôi. Tôi cũng không muốn kiện tụng cất giữ chiếm đoạt tài sản đối với con tôi. Vậy có cách nào nhanh chóng và hợp lý nhất để tôi có sổ đỏ hợp lý hóa. Để tôi chia đất ở cho con cháu tôi! Rất mong được tư vấn giúp đỡ !

Trường hợp này bác có thể báo mất sổ đỏ và xin cấp lại sổ mới.

Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới gồm:

- Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận;

- Giấy tờ xác nhận việc mất Giấy chứng nhận của công an cấp xã nơi mất giấy;

- Giấy tờ chứng minh đã đăng tin mất Giấy chứng nhận trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương (trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn) đối với tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; trường hợp hộ gia đình và cá nhân thì chỉ cần có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã;

Sau đó bác nộp hồ sơ tới văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện để được giải quyết.

Chào luật sư Minh Khuê! Tôi muốn hỏi thêm thông tin về thủ tục xin cấp lại sổ đỏ nhà đất. Gia đình tôi có một miếng đất hiện đang sinh sống trên thửa đất đó và thửa đất đã có sổ đỏ, nhưng do Chồng tôi định đi Nhật cách đây 8 năm nên đã đưa sổ đỏ cho người khác để nhờ vay tiền, khi đưa cho họ không có bất cứ một giấy tờ uỷ quyền gì và sau đó bị lừa mất. Cách đây 3 năm bên phía công an quận Hà Đông có gọi điện về thông báo cho gia đình là đã tìm gia người lừa chiếm đoạt sổ đỏ nhưng khi tòa sử án lại không thông báo cho giá đình tôi. Vậy bây giờ gia đình tôi muốn làm lại sổ đỏ thì phải làm thủ tục như thế nào và có phải làm đơn gửi lên tòa án để sử lại vụ án không? Chân thành cảm ơn!

Thủ tục làm lại sổ đỏ: Bạn chuẩn bị 01 bộ hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thành phần hồ sơ bao gồm các giấy tờ đã nêu ở trên và nộp tại văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện.

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi a giao cho e 1 tài sản có giá trị( a là chủ sở hữu) bằng 1 hợp đồng dân sự có thời hạn( cam kết bằng lời hứa ko có giấy tờ) ! và trong thời hạn hợp đồng đó e lại giao cho 1 người khác mà chưa được sự sự đồng ý của anh! người đó có hứa với e sẽ trả tài sản đó đúng thời gian để e trả lại cho a! nhưng người đó có ý chiếm đoạt ( bỏ trốn)==> e ko thể trả lại tài sản cho anh đúng hẹn được! Vậy e phạm tôi gì, điều may vậy anh! hinh thức xử phat cao nhất là gi vậy anh?. tai sản là 1 chiếc xe oto giá tri khoảng 300 triệu, bạn e đem cầm rồi bỏ trốn! e biết nơi cầm, tai sản ko tẩu tán được! chỉ chờ thu hồi viec bạn e cầm e hoàn toàn ko biết! XIN ANH BỎ CHÚT THOI GIAN TRA LỜI GIÚP E! XIN CAM ON ANH!

Điều 514 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ của bên mượn tài sản như sau:

Điều 496. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản
1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.
2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.
3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.
4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.
5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.

Vì hợp đồng mượn tài sản là dạng hợp đồng không có đền bù, nên nghĩa vụ đầu tiên của người mượn không phải là nghĩa vụ trả tiền, mà là nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản tài sản mượn như tài sản của chính mình. Do vậy, khi sử dụng tài sản, người mượn chỉ có thể khai thác công dụng của tài sản nhằm phục vụ mục đích mượn tài sản của mình, nhưng khi sử dụng phải cẩn thận, không được làm hư hỏng tài sản. Đối với những hư hỏng thông thường, thì bên mượn phải có trách nhiệm sữa chữa. Nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản mà không thể sữa chữa được hoặc nếu có sữa chữa được mà quá tốn kém, thì bên mượn phải bồi thường thiệt hại cho bên cho mượn. Cũng như đối với hợp đồng thuê tài sản, bên mượn tài sản cũng không phải chịu trách nhiệm với những hao mòn tự nhiên của tài sản.

Trong hợp đồng mượn tài sản, bên mượn tài sản không được cho người khác mượn lại tài sản của mình đã đi mượn nếu không được bên cho mượn đồng ý. Bạn cho người khác mượn tài sản mà chủ sở hữu của tài sản đó không đồng ý, bạn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu.

Đối với trường hợp người khác mượn lại tài sản và có ý định chiếm đoạt, bạn có thể khởi kiện người đó về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi ở QUảng Nam kết bạn qua mạng xã hội zalo, giao dịch với một người ở Đắc Lắc để mua trái cây. người này yêu cầu tôi chuyển tiền rồi mới chuyển hàng. và tôi đã chuyển vào tài khoản ngân hàng agribank của họ một số tiền là 740000. sau khi chuyển xong, người kia không gởi hàng và khóa zalo, điện thoại không liên lạc được và mất tăm luôn. được biết người này đã dùng mạng xã hội zalo, facebook để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người qua việc giao dịch mua bán trái cây. tính đến thời gian này, có 4 người bị hại, số tiền hơn 10 triệu đồng. vậy tôi và các nạn nhân làm thế nào để đưa thủ phạm ra ánh sáng và lấy lại tiền? Mong nhận được sự tư vấn sớm từ luật sư

Theo thông tin bạn cung cấp, hành vi của người này có căn cứ để truy cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự. Bạn và những người bị hại khác có thể cùng làm đơn trình báo tới cơ quan công an địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan công an nơi xảy ra sự việc, đồng thời cung cấp những chứng cứ, tài liệu liên quan như: số tài khoản của người đó, chứng từ chuyển tiền, thông tin trao đổi giữa hai bên ... để được hỗ trợ giải quyết kịp thời.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

5. Tư vấn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư! Tôi có trường hợp như sau muốn luật sư tư vấn giúp. Tôi có quen một người bạn lúc tết năm trước có mượn tôi 1 triệu đồng sau khi tôi đi công tác làm lợi dụng lòng tin của tôi, người đó gọi điện bảo tôi làm hồ sơ xin việc làm nạp vào Công ty.
Tôi về làm hồ sơ thì bảo tôi phải đóng 5 triệu nhưng tôi đợi mà không thấy gọi đi làm tôi gọi điện hỏi thì nói đang đi viện rồi bảo tôi đưa thêm 2 triệu cho mượn để mổ sau khi ra viện lại lừa tôi lấy thêm 17 triệu đồng hứa với tôi 3 ngày trả nhưng tới nay đã 3 tháng tôi có gọi nhưng không nghe máy mà chỉ nhắn tin hứa sẽ trả nhưng không thấy đâu. Trường hợp này có phải là hành vi lừa đảo không mong luật sư tư vấn giúp tôi ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi nào ?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017, các yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Mặt khách quan:
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
Dấu hiệu khác: Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2. Cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi nào ?

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Các yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
- Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm: Có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên. Đây là một trong các điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự cũ, bộ luật mới đã có sự tách bạch rõ ràng hơn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
- Dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
- Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm: Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu thành khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Giá trị của tài sản chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên
- Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về xâm phạm sở hữu khác: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình họ.
Những hành vi khách quan cần có những điểm đáng lưu ý sau:
- Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua các hợp đồng vay, mượn thuê tài sản của người khác hoặc bằng hình thức khác. Sau khi có được tài sản người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
- Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

3. Mẫu đơn trình báo công an viết như thế nào ?

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
ĐƠN XIN TRÌNH BÁO
Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ……………………………………….
Tôi tên là :………………………………………………………...........
CMND số : …………………………………………………….…........
ĐKHKTT : ………………………………………………………..........
Chỗ ở hiện tại : ............................................................................
Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:
Thứ nhất:
Tôi và ông A có mối quan hệ....., (quen ở đâu như thế nào?)
Vào ngày …………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Tiếp theo,
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Thứ hai: Ngày …/…./…..
………………………………………………………………………………
Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi và Công ty … , ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến quyền tài sản của công dân...
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Nay tôi đề nghị Qúy cơ quan xem xét các vấn đề sau đây: xác minh, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.....
Tài liệu kèm theo:
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm……
Người làm đơn

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?