1. Thay đổi kinh tế xã hội

Thorstein Bunde Veblen (30 tháng 7 năm 1857 - 3 tháng 8 năm 1929) là một nhà kinh tế học và xã hội học người Mỹ, trong suốt cuộc đời của mình, ông đã nổi lên như một nhà phê bình nổi tiếng về chủ nghĩa tư bản.

Trong tác phẩm Theory of Business En­terprise (1904) và một bộ các tiểu luận nhan đề The Engineers and the Price System (1921), Veblen mở rộng lý thuyết thay đổi định chế trong chủ nghĩa tư bản. Trong tiến trình, ông giải thích rõ ràng lý thuyết chu kỳ kinh doanh và dự đoán về hệ thống Tư bản chủ nghĩa.

Veblen xem thay đổi kinh tế xã hội là kết quả của sự tương tác các định chế công nghệ và nghi thức. Sự tương tác này được tiến hành cụ thể hơn bằng việc nhận dạng hai định chế với một số nhóm trong tiến trình thay đổi. Nhất là, Veblen nhận dạng sự vắng mặt của người chủ sở hữu, “người đứng đầu công nghiệp”, các nhà tài chính công ty, chủ ngân hàng đầu tư, và doanh nhân như bộ phận của tiến trình nghi thức, trong khi kỹ thuật viên, kỹ sư và một số công nhân là bộ phận của tiến trình công nghệ. Ban đầu, chức năng giám sát trực tiếp “tiến trình cơ khí” và quản lý doanh nghiệp là một. Sự hòa trộn chức năng hình thành điều kiện tiên quyết đối với sản xuất tối đa là mục đích của Veblen. Thế nhưng, hai chức năng được tách ra như khía cạnh tiền tệ của văn hóa trở thành yếu tố chi phối và kiến thức chuyên môn hóa phát triển nhanh. Veblen mô tả tiến trình:

“... chứng kiến biện pháp mới trong tổ chức doanh nghiệp kinh doanh, qua đó sự kiểm soát nhiệm ý sản xuất công nghiệp đang thay đổi vượt khỏi mặt tài chính và không liên quan với yêu cầu sản xuất tối đa. Biện pháp mới mang tính chất hai mặt: (a) người nắm giữ tài chính trong công nghiệp chứng tỏ sự bất lực công nghiệp của mình trong mẫu ngày càng thuyết phục, và (b) công tác quản lý tài chính thích đáng của riêng họ ngày càng mang đặc điểm thông lệ tiêu chuẩn hóa chẳng hạn như không còn những kêu gọi hay chấp nhận biện pháp nhiệm ý hay sáng kiến lâu hơn nữa. Họ đã mất liên lạc với sự quản lý tiến trình công nghiệp...” (Engineers and the Price System, trang 41).

2. Mối quan tâm của doanh nhân

Về cơ bản, Doanh nhân (nhà tài chính, người đứng đầu công nghiệp, v.v...) quan tâm đến việc duy trì tổng lợi nhuận càng cao càng tốt. Để đạt mục tiêu này, anh ta hoặc là hạn chế đầu ra theo mẫu độc quyền hoặc phí tổn sản xuất thấp hơn. Theo Veblen, thương nhân về cơ bản đi theo thông lệ trước vì (trong số các lý do khác) đòi hỏi ít quen thuộc hơn đối với hoạt động trong tiến trình cơ khí.

Vì thế lợi nhuận kinh doanh phải chọn nhằm hạn chế đầu ra hơn là giảm số lượng dòng chảy đầu vào đối với “lợi nhuận đầu tư” (cổ đông, chủ ngân hàng đầu tư, v.v...). Họ quan tâm đến việc “kiếm tiền” hơn là “sản xuất hàng hóa”. Kiếm tiền là mục tiêu hoạt động kinh tế trong sơ đồ hàng hóa của Veblen. Do quan tâm duy nhất là kiếm tiền, doanh nhân quản lý tồi tài nguyên và thậm chí phá hoại tiến trình sản xuất công nghệ nhằm duy trì lợi nhuận ở mức cao.

3. Suy nghĩa của Kỹ thuật viên, kỹ sư và công nhân

Kỹ thuật viên, kỹ sư và công nhân “gắn bó với tiến trình cơ khí” nói chung có suy nghĩ khác hoàn toàn so với doanh nhân. Mục tiêu của họ là phải cổ vũ và nghĩ ra phương tiện và máy móc nhằm tối đa hóa sản lượng thực sự. Mặc dù họ làm việc cho các nhà tài chính doanh nghiệp đoàn thể, Veblen cho rằng họ ngày càng nhận thức về lãng phí trong doanh nghiệp kinh doanh. Veblen chỉ rõ một số phát triển ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh này. Nhưng là những chuyên gia công nghiệp chứ không phải là thương nhân, những người sau cùng bắt đầu chỉ trích cách quản lý tồi giông kinh doanh và xem nhẹ phương tiện và biện pháp công nghiệp:

>> Xem thêm:  Học thuyết pháp luật tự nhiên là gì ? Tìm hiểu học thuyết pháp luật tự nhiên

“... Hai vấn đề xảy ra làm xáo trộn chế độ tài chính công ty: chuyên gia công nghiệp, kỹ sư, nhà hóa học, nhà khoáng vật học, kỹ thuật viên các loại, đều hướng theo quan điểm trách nhiệm nhiều hơn trong hệ thống công nghiệp và đang phát triển sinh sôi trong hệ thống, vì hệ thống nói chung không thể hoạt động khi không có họ, và mặt khác, các nhà tài chính công ty đang dựa vào lợi nhuận tài chính cao dựa vào sự hỗ trợ của họ, dần dần đi đến việc thừa nhận rằng tài chính công ty có thể được quản lý tốt' nhât như một thông lệ quan liêu toàn diện...” (Engineers and the Price System, trang 44-45).

Kỹ sư và các chuyên gia công nghiệp phải đảm nhận một vai trò trong việc lập lại thứ tự hệ thống sản xuất, một vài trò được hội nhập tốt hơn vào lý thuyết chu kỳ kinh doanh của Veblen.

4. Chu kỳ kinh doanh mang tính nội sinh

Veblen như Marx nghĩ rằng chu kỳ kinh doanh mang tính nội sinh đối với chủ nghĩa tư bản và đối với nhiều lý do tương tự. Veblen không cố gắng đặt chu kỳ kinh doanh cạnh với lý thuyết giá trị lao động, ông giải thích sự khủng hoảng và suy thoái kéo dài giống như Marx. Có hai yếu tố cơ bản dẫn đến khủng hoảng, theo Veblen:

- Tính không chắc chắn của chủ ngân hàng sau một giai đoạn phát triển và cổ phần hóa mới công nghiệp và

- Sự thay thế công nghệ bằng những phát minh và tiến trình mới, hiệu quả hơn.

Trong diễn tiến kinh doanh bùng phát, doanh nghiệp tích lũy nợ khi cổ phần hóa doanh nghiệp tiếp tục phát triển nhanh. Chủ ngân hàng-người cho vay không chắc chắn đối với số tiền hoàn lại và bắt đầu “thu hồi” (hoặc không cho vay tiếp). Cơ cấu vốn nền tảng (có thể là do cơ cấu đến kỳ phải thanh toán) không thể đáp ứng yêu cầu của chủ ngân hàng, và ngày càng có nhiều sự không chắc chắn hơn, thì toàn bộ hệ thống chứng tỏ không hoàn thiện và khủng hoảng bao trùm nền kinh tế.

Kịch bản khủng hoảng thứ hai bao gồm thay thế công nghệ của doanh nghiệp cũ bằng doanh nghiệp mới. Doanh nghiệp kinh doanh cổ phần hóa trong một số thời điểm, nhưng phát minh giảm phí tổn sau này được các doanh nghiệp cạnh tranh mới chấp nhận. Do đó lợi suất giảm ở số tích sản cũ hơn, tạo ra lợi nhuận dự đoán thấp hơn hay, ở ven bờ phá sản. Đầu tư giảm, tâm lý khủng hoảng dẫn đến thời kỳ suy thoái trong hoạt động kinh doanh. Vì thế, suy thoái sinh ra từ sự bất ổn trong hệ thống tài chính và từ sự thay thế công nghệ do phát minh mới. Sau thời kỳ suy thoái, chu kỳ “giá xuống mức thấp nhất và lên lại” khi kinh phí quản lý “tiêu tan”. Sự mở rộng tài chính diễn ra cùng với sự gia tăng việc làm và đầu tư vốn mới. Tăng giá và sự mở rộng quá mức diễn ra, thúc giục một chu kỳ mới xảy ra nhiều hơn.

Nhiều khía cạnh trong chu kỳ Veblen là vấn đề vốn. Thứ nhất, Veblen mô tả đặc điểm giai đoạn mở rộng của chu kỳ như là một trong sự sản xuất quá thừa và mức vốn quá nhiều. Sản xuất quá thừa là kết quả của lập luận tiêu dùng quá ít trong nhận thức chu kỳ của Veblen. Tham gia vào phái tiêu dùng quá ít như Malthus trước ông và J. M. Keynes sau ông, Veblen cho rằng chu kỳ kinh doanh được tăng thêm bằng các động cơ tiết kiệm và đầu tư của các nhà tài chính và chủ sở hữu các xí nghiệp kinh doanh. Mặc dù bản năng cạnh tranh và tiêu dùng phô trương hoạt động trong mọi giai cấp, rõ ràng Veblen cho rằng chưa đủ duy trì tổng nhu cầu. Tiêu dùng quá ít và ảnh hưởng tâm lý của giá giảm và vốn dư thừa là yếu tố dẫn đến sự khủng hoảng kéo dài.

Đặc điểm lý thú thứ hai trong giai đoạn khủng hoảng trong chu kỳ Veblen là tính chất nỗ lực của doanh nhân nhằm tránh khủng hoảng. Veblen tin rằng mức lợi nhuận giảm dần dẫn đến sự tập trung kinh doanh và các hình thức “phá hoại” khác. Sự hợp nhất công nghiệp diễn ra để tránh việc giảm tổng cổ phần hóa. Vì thế, sau các chu kỳ liên tiếp, công nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày càng hợp nhất nhiều hơn giống như giả thiết của Marx “tập trung tăng dần” và “lãi suất giảm dần”.

>> Xem thêm:  Thị trường giao dịch tập trung là gì ? Thị trường giao dịch phi tập trung là gì?

5. Dự báo của Veblen

Trong một lập luận mang tính dự báo, Veblen buộc tội doanh nhân cố gắng "nắm bắt” công cụ điều tiết của chính phủ và sử dụng công cụ này để phá hoại theo thứ tự, có tổ chức chống lại công chúng. Veblen nhận thấy qua mối quan hệ loạn luân giữa chính phủ và kinh doanh trong vấn đề hạn chế ngoại thương và biểu thuế:

“Nơi chính phủ quốc gia được giao việc quan tâm chung đến quyền lợi kinh doanh của quô'c gia, lúc nào cũng là trường hợp trong các quốc gia văn minh, nếu tiếp theo sau tính chất của trường hợp người lập pháp và hành chính của quốc gia sẽ có một số phần chia trong việc phân phối chút ít phá hoại cần thiết luôn đi vào công việc hàng ngày khi điều hành công nghiệp bằng phương pháp kinh doanh và đối với các mục đích kinh doanh. Chính phủ trong quan điểm phải phạt giao thông quá mức và độc hại. Vì thế, cũng cần nghiên cứu, hay ít nhất cũng thiết thực, bằng tất cả phái Trọng thương giỏi, cũng như bằng biểu thuế hay bằng trợ cấp để áp đặt và duy trì một số cân bằng và tỉ lệ trong số một vài ngành công nghiệp và thương mại đi đến việc hình thành hệ thống công nghiệp quốc gia”. (Engineers and the Price System, trang 18-19).

Trong một đoạn trích, Veblen chuyển “lý thuyết nắm bắt” của ông sang điều tiết và hạn chế nội bộ:

“Với một tính chất tương tự, thực ra chúng nằm trong tính chất phá hoại - sự rút lại tính hiệu quả có ý thức - là tất cả biện pháp thực hiện và quy định dán tem, mặc dù không phải lúc nào chúng cũng dùng cho mục đích ấy. Chẳng hạn, mục đích như thế phải là sự ngăn cấm từng phần hay toàn bộ thức uống có cồn, quản lý kinh doanh thuốc lá, thuốc phiện, ma túy, dược phẩm, thuốc độc và thuốc nổ. Cũng cùng tính chất, thực ra nếu không phải là chủ ý, những quản lý như thế là luật oleomargarine, cũng là thông lệ tốn kém, gây phiền phức không cần thiết trong việc thanh tra áp đặt lên sản xuất cồn công nghiệp (biến chất), phải có tác dụng mang đến lợi ích của một số doanh nghiệp liên quan quan tâm đên nhiên liệu khác sử dụng trong động cơ đốt trong, vì thế cũng là sự thuyết minh ngớ ngẩn rất hoàn thiện và gây phiền phức khác thường hạn chế và làm thất vọng việc sử dụng bộ phận bưu kiện, vì lợi ích của các công ty phát thư nhanh và các hãng vận tải khác có những quyền lợi bất di bất dịch trong giao thông thuộc loại đó”. (Engineers and the Price System, trang 20-21).

6. Tương lai của chủ nghĩa tư bản

Những ví dụ trên hình thành điều mà Veblen gọi là sự rút lại tính hiệu quả có ý thức của doanh nghiệp. Tất cả những nỗ lực rút bỏ như thế nhằm phá hoại tiến trình sản xuất, nghĩa là nhằm giảm đầu ra ở mức có lợi nhuận cao nhất. Dĩ nhiên, sự khan hiếm này đi kèm với các chu kỳ kinh doanh gia tăng sự khắc nghiệt. Trong sơ đồ của Veblen, đại diện của các định chế công nghệ có thể được cho rằng phản kháng những hoạt động ngớ ngẩn của doanh nhân. Nhưng sự phản kháng phát xuất từ đâu, và loại định chế nào sẽ giành thắng lợi?

Trong sơ đồ của Marx, công nhân vô sản phát triển một quyền lợi giai cấp không thừa nhận giai cấp tư sản, nhưng không phải là sơ đồ của Veblen. Lao động có tổ chức theo quan điểm của Veblen, sử dụng sự rút lại tính hiệu quả có ý thức hay nhằm duy trì thu nhập của mình trên “mức cạnh tranh” mà “thường dân” có được. Liên đoàn lao động Mỹ (AFL) là ; một mục tiêu thường xuyên.

Veblen nghiên cứu các tổ chức lao động và nhất là AFL là một trong những quyền lợi bất di bất dịch luôn sẵn sàng tranh đấu cho đặc quyền và lợi nhuận của riêng nó (Engineers and the Price System, trang 88). Giới lãnh đạo AFL chi phối chính trị của tổ chức, nhưng công nhân được phân hạng ra sao?

Cả lao động doanh nghiệp và có tổ chức đều chung phần phá hoại tiến trình sản xuất, vì thế sự thay đổi tượng trưng cho uy thế quyền lợi công nghệ phát triển ra sao? Đối với Veblen, kỹ sư và quản trị công nghiệp là mấu chốt. Mặc dù loại nghề này chỉ chiếm chưa đến 1% dân số, Veblen vẫn tin rằng họ có thể thay đổi trật tự công nghiệp của chủ nghĩa tư bản tài chính (Có thể, chủ nghĩa xã hội thuộc một số’ hình thức sẽ mang lại kết quả, nhưng trật tự như thế sẽ như thế nào vẫn chưa rõ trong tác phẩm của Veblen). Kỹ sư và nhân viên sản xuất công nghệ khác phần lớn được đào tạo bằng chi phí công cộng, và chỉ riêng họ mới có năng lực điều hành nền kinh tế. Mặc dù tính chất của cuộc đấu tranh tiến hóa (hay có thể là cách mạng) vẫn chưa rõ, Veblen thường ám chỉ công nhân không liên kết, “thường dân” (và thậm chí phân loại) ngày càng nhận thức nhiều hơn về sự lạm dụng có lợi của công nghệ do kinh doanh và lao động có tổ chức gây ra. Một số loại chủ nghĩa xã hội có khả năng có kết quả, nhưng Veblen thiếu dự đoán xác định về kết quả của tiến trình này. Marx dự đoán trong phạm vi hệ thống của mình, nhưng Veblen không thể vì ông luôn duy trì quan điểm tiến hóa về triển vọng của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, kết quả của nghiên cứu sâu sắc của Veblen về sự tương tác định chế vẫn chưa rõ, và sau cùng ông chỉ tự biện. Sự tự biện lý thú của ông là chủ nghĩa Tư bản, và nhất là chủ nghĩa Tư bản Mỹ, và ở bước ngoặt:

“Thực ra, tiến bộ trong hệ thống công nghiệp này hướng đến sự cân bằng cơ khí toàn diện của các tiến trình đan chéo nhau có vẻ như đang tiếp cận đến tình thế tới hạn, vượt qua tình thế này việc chừa lại quyền kiểm soát trong tay doanh nhân đang hoạt động ở mục đích trái ngược để có lợi riêng không còn khả thi nữa, hay giao phó sự phân phối tiếp tục đến những người khác hơn là chuyên gia công nghệ đào tạo thích hợp, kỹ sư sản xuất không có quan tâm thương mại. Lúc ấy những người này sẽ làm gì tất cả đều không đơn giản như thế, trong điều kiện tốt nhất họ có thể thực hiện nhưng không thể ở mức độ thích hợp, nhưng vấn đề tiêu cực trở thành đơn giản thích hợp, tình trạng cơ khí này của nghệ thuật công nghiệp sẽ không dung hòa sự kiểm soát sản xuất liên tục bằng quyền lợi bất di bất dịch dưới sự cai trị bất tài kiểu doanh nghiệp hiện hành bằng tư vấn”. (Engineers and the Price System, trang 58).

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về Triết học pháp quyền của Hegen

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tác phẩm The Theory of the Leisure Class: An Economic Study of Institutions nói về cái gì?

Trả lời:

The Theory of the Leisure Class: An Economic Study of Institutions (1899) là một cuốn sách của Thorstein Veblen nói về cách sở hữu hoặc theo đuổi của cải ảnh hưởng đến hành vi của con người. Cụ thể hơn, nó là một chuyên luận về kinh tế học cũng như một phê bình xã hội chi tiết về ' tiêu dùng dễ thấy ' như một chức năng của giai cấp xã hội và của chủ nghĩa tiêu dùng , xuất phát từ sự phân tầng xã hội của con người và sự phân công lao động, vốn là các thiết chế xã hội của thời kỳ phong kiến (thứ 9 - 15 c.) tiếp tục đến thời kỳ hiện đại.

 

Câu hỏi: Chủ nghĩa tư bản là gì?

Trả lời:

Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân của phương tiện sản xuất và hoạt động của họ đối với lợi nhuận.

 

 

Câu hỏi: Chủ nghĩa tư bản có đặc trưng gì?

Trả lời:

Các đặc điểm trung tâm của chủ nghĩa tư bản bao gồm tích lũy tư bản, thị trường cạnh tranh, hệ thống giá cả, tài sản tư nhân và việc thừa nhận quyền sở hữu, trao đổi tự nguyện và lao động làm công ăn lương.  Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, việc ra quyết định và đầu tư được xác định bởi mọi chủ sở hữu của cải, tài sản hoặc khả năng sản xuất trên thị trường vốn và tài chính, trong khi giá cả và phân phối hàng hóa và dịch vụ chủ yếu được xác định bởi sự cạnh tranh trên thị trường hàng hóa và dịch vụ.