1. Thủ tục đăng ký nhận con nuôi ở Việt Nam ?
Do không đủ điều kiện nuôi cháu nên có làm một giấy viết tay cam kết giao con cho chúng tôi nuôi dưỡng. Bé đã có giấy chứng sinh mang tên của mẹ bé, nhưng chưa làm giấy khai sanh. Xin cho hỏi hiện nay tôi muốn làm giấy tờ hợp pháp cho bé thì cần những thủ tục như thế nào? Và cơ quan nào sẽ giải quyết việc này? Trường hợp không tìm lại được mẹ của bé thì phải làm như thế nào?
Rất mong nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn của luật sư.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.Ngoc
>> Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật về nhận con nuôi, gọi ngay:1900.6162
Trả lời
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:
Trước hết, trẻ cần được đi khai sinh để lấy giấy khai sinh sau đó bạn mới có thể làm các thủ nhận con nuôi.
Căn cứ theo quy định tại Điều 14 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh:
"Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em."
Như vậy trong thời hạn 60 ngày mẹ của bé phải có trách nhiệm đi khai sinh cho bé, nếu giờ không tìm được mẹ thì ông bà hay những người thân thích khác phđi khai sinh cho trẻ. Trường hợp bạn không thể báo cho người thân của cháu bé mà cũng không tìm thấy mẹ thì bạn có thể đi khai sinh cho trẻ trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi quy định tại Điều 16 Nghị định này:
"Điều 16. Khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi
1. Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.
Biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, địa chỉ của người phát hiện. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản, một bảo giao cho người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình có trách nhiệm thông báo miễn phí 3 lần trong 3 ngày liên tiếp các thông tin về trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ, thì người hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh.
3. Khi đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, họ, tên của trẻ được ghi theo đề nghị của người đi khai sinh; nếu không có cơ sở để xác định ngày sinh và nơi sinh, thì ngày phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày sinh; nơi sinh là địa phương nơi lập biên bản; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được để trống. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "trẻ bị bỏ rơi". Trong trường hợp có người nhận trẻ làm con nuôi, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch căn cứ vào quyết định công nhận việc nuôi con nuôi để ghi tên cha, mẹ nuôi vào phần ghi về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của con nuôi; trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "cha, mẹ nuôi"; nội dung ghi chú này phải được giữ bí mật, chỉ những người có thẩm quyền mới được tìm hiểu."
Tiếp theo, xác định điều kiện nhận nuôi con nuôi theo Điều 14, Luật Nuôi con nuôi của Quốc hội, số 52/2010/QH12 như sau:
1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt.
2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:
a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
c) Đang chấp hành hình phạt tù;
d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.
Trường hợp bạn đủ điều kiện để nhận nuôi con nuôi Hồ sơ cần có để thực hiện thủ tục đăng ký nuôi con nuôi căn cứ vào Luật nuôi con nuôi như sau:
Điều 17. Hồ sơ của người nhận con nuôi
Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:
1. Đơn xin nhận con nuôi;
2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
3. Phiếu lý lịch tư pháp;
4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
5. Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.
Điều 18. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước
1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:
a) Giấy khai sinh;
b) Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;
d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất năng lực hành vi dân sự;
đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.
2. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng.
Điều 19. Nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi
1. Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.
Trong trường hợp bạn có thể liên lạc được với mẹ bé hoặc gia đình thì cần phải làm đơn xin nhận con nuôi theo mẫu đồng thời tuân thủ Điều 21 Luật nuôi con nuôi như sau:
Điều 21. Sự đồng ý cho làm con nuôi
1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.
2. Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.
Việc bổ sung, sửa đổi Giấy khai sinh của con nuôi được thực hiện như sau: Trong trường hợp giữa cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi có sự thỏa thuận về việc thay đổi phần khai về cha, mẹ từ cha, mẹ đẻ sang cha, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của con nuôi, thì UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh cho con nuôi đăng ký khai sinh lại theo những nội dung thay đổi đó. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “cha, mẹ nuôi”. Việc đăng ký khai sinh lại phải được ghi rõ trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh trước đây. Bản chính và bản san Giấy khai sinh của con nuôi được cấp theo nội dung mới. Giấy khai sinh cũ phải thu hồi (Căn cứ khoản 2, Điều 28 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP,)
Trường hợp không thể liên lạc với bất kỳ ai là người thân với trẻ, bạn đi khai sinh cho bé đồng thời làm hồ sơ theo quy định tại Điều 18 Luật nuôi con nuôi gửi đến UBND xã để được giải quyết.
Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặ tổng đài tư vấn trực tuyến: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
2. Khi cha đẻ không chịu ký Giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình (24/) số: 1900.6162
Trả lời :
Trong vụ việc nói trên, các khiếu nại của anh Ất về việc cán bộ hộ tịch thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh và việc anh Ất không chịu ký tên vào Giấy thoả thuận việc cho trẻ làm con nuôi là hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật. Để giải quyết vấn đề này cán bộ hộ tịch cần căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.
- Về việc đăng ký khai sinh và ghi tên anh Ất vào Giấy khai sinh của cháu bé
Anh Ất khiếu nại việc mẹ vợ mình đi đăng ký khai sinh cho cháu bé và khai tên anh vào phần khai về người cha của cháu bé khi không được sự đồng ý của anh là sai vì theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, nếu cha mẹ không thể đi khai sinh, thì ông bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
Khi đi khai sinh cho cháu mình, mẹ chị Giáp đã thực hiện đúng thủ tục cần thiết là xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của vợ chồng chị Giáp làm cơ sở để cán bộ tư pháp - hộ tịch xác định cha đẻ, mẹ đẻ của cháu bé. Việc xác định con chung được quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Như vậy, Giấy chứng nhận kết hôn của anh Ất và chị Giáp là cơ sở để cán bộ tư pháp khẳng định quan hệ hôn nhân của anh Ất, chị Giáp đang tồn tại, từ đó xác định anh Ất là cha đẻ cháu bé theo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc anh ất không thừa nhận cháu bé là con của mình và không chịu ký vào Giấy thoả thuận cho và nhận con nuôi
Cán bộ hộ tịch cần căn cứ vào Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc xác định con chung, cháu bé do chị Giáp sinh ra đương nhiên được xác định là con chung của anh Ất và chị Giáp. Trong trường hợp, anh Ất không thừa nhận cháu bé là con đẻ của mình thì theo quy định tại khoản 2 Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì anh Ất phải có các chứng cứ và đề nghị Toà án cấp huyện thực hiện thủ tục tố tụng để xác định cháu bé không phải là con mình. Khi chưa yêu cầu Toà án xác định mình không phải là cha cháu bé thì anh Ất vẫn được xác định là cha đẻ của cháu bé nên việc cho cháu đi làm con nuôi người khác bắt buộc phải có sự đồng ý của cả anh Ất và chị Giáp thể hiện trên Giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi, cũng như phải cùng có mặt khi làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi. Do đó, nếu anh Ất không chịu ký vào Giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi thì cán bộ hộ tịch không thụ lý việc đăng ký nuôi con nuôi.
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.
3. Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi có vi phạm pháp luật không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời :
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Pháp luật nước ta không cho phép phân biệt đối xử giữa con đẻ, con nuôi. Con đẻ và con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau.
Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “ Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
“Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng con chưa thành niên.
“Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.”
Đối chiếu với các quy định trên thì: Việc ông H không cho con nuôi đi học và bắt làm việc để thay cho con đẻ mình đi học vừa trái với đạo đức xã hội vừa vi phạm luật pháp. Nếu ông không chấm dứt ngay hành vi phân biệt đối xử của mình đối với con nuôi thì ông phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Trân trọng./.
4. Mẫu báo cáo tình hình phát triển con nuôi nước ngoài
.
Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
----------------------------------------------------------
BÁO CÁO TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CON NUÔI
REPORT ON DEVELOPMENT OF ADOPTED CHILD
| Kính gửi: To: | - Cục Con nuôi- Bộ Tư pháp Việt Nam Department of Adoption, Ministry of Justice of S.R. Vietnam | |||||||
| - Cơ quan đại diện của Việt Nam tại[1] Vietnamese Diplomatic Mission | ||||||||
| STT CCN DA No. | Ngày tháng năm Date | Báo cáo số Report No. | /6 | |||||
| 1. THÔNG TIN CHUNG General information | |||||||||||||||
| Họ tên Việt Nam Vietnamese full name | |||||||||||||||
| Họ tên mới New full name | |||||||||||||||
| Ngày, tháng, năm sinh Date of birth | Giới tính Sex | ||||||||||||||
| Nơi sinh/ Quê quán ( như trong hộ chiếu) Place of birth/ Native place (as in the passport) | |||||||||||||||
| Văn phòng con nuôi Adoption agency | |||||||||||||||
| Số Quyết định cho TE làm con nuôi Decision on Adoption No | Ngày, tháng, năm Date | ||||||||||||||
| Cơ quan cấp quyết định Issued by | |||||||||||||||
| Ngày bàn giao Date of handover Ceremony | |||||||||||||||
| Ngày nhập quốc tịch nuớc nhận Date of receiving citizenship in receiving country | |||||||||||||||
| Số công dân tại nước nhận/ PIN tại nước nhận Number of security/citizen/PIN/ at receiving country | |||||||||||||||
| 2. Cha mẹ nuôi Adoptive parents | Cha nuôi Adoptive father | Mẹ nuôi Adoptive mother | |||||||||||||
| Họ và tên Full name | |||||||||||||||
| Ngày, tháng, năm sinh Date of birth | |||||||||||||||
| Nghề nghiệp Occupation | |||||||||||||||
| Quốc tịch Nationality | |||||||||||||||
| Nơi thường trú Permanent residence | |||||||||||||||
| Địa chỉ liên hệ Address for correspondence | |||||||||||||||
| Điện thoại/fax/email Tel/fax/email | - - - | ||||||||||||||
| 3. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM (kèm theo ảnh của trẻ em) Child Development (including photographs): | ||||
| 1. Về tình trạng sức khoẻ (về thể chất, tinh thần) Health status (physical and mental development): | ||||
| Kém Not enough | Tốt Good | Rất tốt Very well | ||
| Thể chất Physical - Chiều cao hiện tại: (Curent height) - Cân nặng hiện tại: (Curent weight) | ||||
| Tinh Thần Mental | ||||
| Khác Other | ||||
| 2. Về mức độ hoà nhập với cha mẹ nuôi/gia đình/cộng đồng Child’s relationship with adoptive parents/ family/community: | ||||
| Bố mẹ Parents | ||||
| Gia đình Family | ||||
| Cộng đồng Community | ||||
| Khác Other | ||||
| 3. Về học tập Education: | ||||
| 4. Vấn đề khác (nếu có) Other (if any): | ||||
……………, ngày ……… tháng ……… năm ……….
Done at ………………………… , on ………………..
| Cha nuôi Mẹ nuôi Xác nhận của cơ quan, tổ chức Adoptive father Adoptive mother có thẩm quyền[2] (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Certification of competent office) (Signature and full name) (Signature and full name) |
[1] Ghi tên nước, nơi con nuôi thuờng trú/name of country where adopted child residing.
[2] Tuỳ theo quy định của nước nhận, cơ quan có thẩm quyền xác nhận có thể là cơ quan dịch vụ xã hội, tổ chức con nuôi vv.../ depends on the legislation of receiving country, competent office may be the social service office or adoption agency.
5. Con nuôi sẽ được Luật bảo vệ như con đẻ ?
Hội thảo pháp luật về nuôi con nuôi do Ủy ban Pháp Luật Quốc hội phối hợp với UBND tỉnh Cà Mau tổ chức vào ngày hôm qua (28/12) nhằm tiếp tục tiếp thu ý vào dự thảo Luật Nuôi con nuôi. Nhiều vấn đề được đặt ra trong hội thảo là mối quan hệ của trẻ làm con nuôi với các thành viên trong gia đình cha mẹ nuôi? Phí và lệ phí xin con nuôi đóng cho ai và ai quản lý phí này? Ai sẽ làm Chủ tịch Hội đồng xét duyệt hồ sơ con nuôi? Giới hạn độ tuổi cận trên (người xin con nuôi) và cận dưới (trẻ được xin làm con nuôi) v.v…. Bà Hà Thị Thanh Vân, Phó trưởng ban Chính sách - Luật pháp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho rằng: dự thảo Luật không qui định độ tuổi cận trên là bao nhiêu để được nhận trẻ có độ tuổi dưới 36 tháng tuổi, từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi và trên 72 tháng tuổi. Theo đại biểu Vân, luật nên qui định tuổi cận trên bắt buộc phải dưới 40 tuổi mới được xin nhận con nuôi dưới 72 tháng tuổi, vì trên 40 thì người xin con nuôi không cùng nhịp tầng tâm, sinh lý với trẻ dưới 72 tháng tuổi nên việc nuôi dạy con rất khó khăn. Cũng theo đại biểu này, cần phải có thêm số liệu thống kê của các cơ quan chức năng để xác định tỷ lệ giới tính xin con nuôi. “Chúng ta không biết tỷ lệ trai hay gái được xin làm con nuôi chênh lệch bao nhiêu? Xu hướng xin con nuôi thích trai hay gái? Tỷ lệ đó sẽ định hướng chúng ta soạn thảo những điều luật cho bé trai, bé gái cụ thể” – Đại biểu Vân ý kiến.
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng cho biết, một trong những mục tiêu mà Ban Soạn thảo Luật Nuôi con nuôi hướng tới là sau khi Luật ban hành, con nuôi sẽ được luật bảo vệ như con đẻ. Về độ tuổi, dự luật quy định theo hướng tuổi cận dưới là dưới 16 tuổi và sẽ chú ý tuổi cận trên, cận dưới để loại bỏ tình trạng lợi dụng con nuôi trong vấn đề tình cảm, lạm dụng tình dục.
Ông Nguyễn Văn Thuận, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khẳng định: Luật Nuôi con nuôi nếu được ban hành sẽ là căn cứ pháp lý cao nhất để giải quyết trình tự thủ tục xin nhận con nuôi, thay cho tất cả những thông tư, nghị định hay văn bản đưới luật hiện hành. Về độ tuổi thì thống nhất với Ban soạn thảo là dưới 16 tuổi nhưng qui định thêm những trường hợp ngoại lệ. “Trên 18 tuổi đến dưới 20 tuổi dứt khoát không cho nhận con nuôi từ 72 tháng tuổi trở lên” - Ông Thuận lưu ý. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cũng cho biết sẽ tiếp tục tiếp thu ý kiến để chỉnh lý dự Luật theo hướng qui định trình tự thủ tục rõ ràng, hoàn thiện một cách tốt nhất mối quan hệ giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình, bảo vệ quyền làm cha làm mẹ nhưng không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của những đối tượng khác liên quan.
(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)
THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:
1. Tư vấn pháp luật lao động;
2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;
3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;
4. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;
5.Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.
6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;