1. Thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ?

Kính thưa Luật sư! Luật sư cho tôi hỏi tôi hiện tôi có quốc tịch Mỹ. Tôi muốn đăng ký kết hôn với người Việt Nam. Hồ sơ của tôi cần giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do lãnh sự quán Vệt Nam ở Mỹ cấp vậy tôi phải làm thế nào và thủ tục như thế nào ạ ?
Mong Luật sư tư vấn giúp.
Người hỏi: A.K

>> Tư vấn xác nhận tình trạng độc thân, gọi:1900.0159

Trả lời:

Thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 28 Nghi định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình:

- Nộp hồ sơ: người yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra về nhân thân, tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; có văn bản báo cáo kết quả kiểm tra và nêu rõ các vấn đề vướng mắc cần xin ý kiến, gửi Sở Tư pháp, kèm theo bản chụp bộ hồ sơ.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản kèm theo hồ sơ của Ủy ban nhân dân cấp xã thì Sở Tư pháp tiến hành các biện pháp sau đây:

+ Thẩm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp cần làm rõ về nhân thân, tình trạng hôn nhân, điều kiện kết hôn, mục đích kết hôn của người có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì Sở Tư pháp tiến hành xác minh;

+ Yêu cầu công dân Việt Nam có mặt tại trụ sở Sở Tư pháp để tiến hành phỏng vấn, làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn, sự hiểu biết của công dân Việt Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú;

+ Yêu cầu bên người nước ngoài đến Việt Nam để phỏng vấn làm rõ, nếu kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn cho thấy công dân Việt Nam không hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú hoặc công dân Việt Nam cho biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Trường hợp cần phiên dịch để thực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định người phiên dịch.

Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn; người phiên dịch (nếu có) phải cam kết dịch chính xác nội dung phỏng vấn và ký tên vào văn bản phỏng vấn.

Trên cơ sở kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn, Sở Tư pháp có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã để cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu.

Trong trường hợp từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do trong văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cấp cho người yêu cầu hoặc có văn bản thông báo về việc từ chối cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, trong đó nêu rõ lý do.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn trường hợp thực hiện thủ tục ly hôn vắng mặt tại tòa án ?

2. Xin giấy xác nhận độc thân khi đã ly hôn tại tòa ?

Thưa luật sư, Xin cho tôi hỏi nếu như tôi đã hoàn thành giấy ly hôn với người đài loan rồi, khi về việt nam,tôi cần làm thêm giấy tờ gì để có thể làm giấy tờ độc thân, để kết hôn sao này ?
Người hỏi: CP

>> Tư vấn xác nhận tình trạng độc thân, gọi:1900.0159

Trả lời

Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam nếu được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Nếu được công nhận thì bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự.

Như vậy, với quy định trên thì bạn cần phải làm đơn xin công nhận và cho thi hành bản án nước ngoài tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 350 BLTTDS thì thủ tục để được công nhận như sau: Bạn phải làm đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án của nước ngoài gửi Bộ Tư pháp Việt Nam. Kèm theo đơn là Bản án của Tòa án nước ngoài, Bản sao chứng minh nhân và các tài liệu có liên quan khác. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo, Bộ Tư pháp phải gửi hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam để tòa án giải quyết đơn yêu cầu. Sau khi nhận được hồ sơ, Tòa án giải quyết theo trình tự đã được pháp luật quy định.

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về lãnh sự thì trước khi em bạn gửi đơn cho Bộ Tư pháp em bạn cần phải tiến hành thủ tục Chứng nhận lãnh sự và Hợp pháp hóa lãnh sự đối với bản án do Tòa án nước ngoài cấp. Việc chứng nhận lãnh sự được thực hiện tại cơ quan ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam. Sau đó tiến hành hợp pháp hóa lãnh sự tại Cục lãnh sự - Bộ Ngoại giao Việt Nam. Sau khi đã chứng nhận lãnh sự và hợp pháp hóa lãnh sự xong, em bạn cần mang tài liệu này đi dịch sang tiếng Việt tại Phòng Tư pháp quận, huyện.

Sau khi bản án nước ngoài đã được Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam thì em bạn tiến hành các thủ tục thông thường theo quy định của pháp luật về cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Quyết định công nhận và cho thi hành bản án là một tài liệu đính kèm trong hồ sơ xin xác nhận tình trạng hôn nhân, đăng ký kết hôn của bạn.

Trình tự thực hiện:

- Người yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nộp hồ sơ trực tiếp hoặc ủy quyền nộp hồ sơ tại UBND cấp xã;

Thành phần hồ sơ :

- Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

- Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn (trong trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ, có chồng, nhưng đã ly hôn).

Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho đương sự Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo thời hạn luật định.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam ?

3. Thủ tục xin xác nhận tình trạng độc thân ?

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là căn cứ để chứng minh tại thời điểm xác nhận một người nào đó đang trong tình trạng là người đang độc thân hay đã kết hôn, được sử dụng cho mục đích kết hôn, chứng minh quyền sở hữu tài sản...

Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh;

Với công dân Việt Nam đã ly hôn, hủy việc kết hôn ở nước ngoài, sau đó về nước thường trú hoặc làm thủ tục đăng ký kết hôn mới tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì phải ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn, hủy kết hôn đã được giải quyết ở nước ngoài (sau đây gọi là ghi chú ly hôn). Trường hợp đã nhiều lần ly hôn hoặc hủy việc kết hôn thì chlàm thủ tục ghi chú ly hôn gn nhất.

Cơ quan thụ lý hồ sơ và trả kết quả: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú của công dân; nếu không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu.

Trên đây là hướng dẫn về thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê. Mọi khó khăn, vướng mắc của khách hàng có thể liên hệ đến tổng đài 1900.0159 để được tư vấn. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Mất giấy chứng nhận đăng ký kết hôn có được cấp lại không ? Ly hôn khi mất đăng ký kết hôn

4. Xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Lào sống tại Việt Nam ?

Qua rà soát, thống kê sơ bộ việc thực hiện Chỉ thị 31 ngày 20/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam – Lào của các tỉnh có biên giới với Lào cho thấy, vẫn còn một bộ phận công dân Lào không thể làm thủ tục đăng ký kết hôn vì không thể có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Lấy giấy xác nhận: ngang “đánh đố”

Theo quy định tại Điều 69 Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì “công dân của nước láng giềng phải nộp Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định, có xác nhận chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng đó về việc hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng”

Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy định nói trên là không khả thi đối với một bộ phận người có quốc tịch Lào sinh sống nhiều năm trên đất nước Việt Nam. Khi thực hiện việc rà soát theo Chỉ thị 31 của Thủ tướng Chính Phủ một số tỉnh có chung đường biên giới với Lào cho thấy, thực trạng này khá phổ biến, có nơi lên tới hàng ngàn trường hợp (Quảng Trị, Kon Tum…). Tuy nhiên, theo nhiều cơ quan tư pháp, các trường hợp này không đủ điều kiện để đăng ký kết hôn do họ không thể có được tờ khai đăng ký kết hôn (xác nhận tình trạng hôn nhân)..

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: - 1900.0159

Có rất nhiều lý do dẫn đến tình trạng này. Thứ nhất, do công dân Lào đã sinh sống ổn định tại khu vực biên giới Việt Nam nên không thể về bên kia (Lào) để xin xác nhận đã có vợ/chồng do điều kiện kinh tế khó khăn, việc xuất nhập cảnh phải qua nhiều thủ tục. Hơn nữa nhận thức pháp luật hạn chế, nhiều người có tâm lý ỷ nại việc đăng ký là của… nhà nước. Vấn đề thứ hai quan trọng hơn là dù họ có muốn lấy tờ khai cũng không thể do đã sinh sống ở Việt Nam nhiều năm (thậm chí có nhiều người đến đời thứ 3, thứ 4), cơ quan có thẩm quyền của Lào không quản lý, không biết tình trạng hôn nhân của họ (đương nhiên là như vậy) nên không thể cấp giấy.

Bên cạnh đó, cũng theo Nghị định 68/CP (điều khoản được giữ nguyên khi sửa đổi bằng Nghị định 69/CP) thì khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn công dân của nước láng giềng phải xuất trình giấy tờ tùy thân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước láng giềng cấp cho công dân nước đó thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; Trong trường hợp không có giấy tờ tùy thân này thì phải xuất trình giấy tờ chứng minh việc thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam kèm theo giấy tờ tùy thân khác của đương sự để kiểm tra…. Điều này cũng là không tưởng do nhiều người là dân di cư, nhập cư trái phép, hoặc là hệ quả của chính sách hoạch định biên giới…

Có thể cho cam đoan?

Sau gần 2 năm triển khai Chỉ thị 31, tiến độ chung ở các địa phương hiện tại vẫn đang rà soát để lập hồ sơ các trường hợp sống chung không đăng ký, không có quốc tịch…. Theo phản ánh của nhiều địa phương, sở dĩ tốc độ “rùa” như vậy là do hồ sơ phần lớn không đủ điều kiện theo yêu cầu do đó không thể hoàn thiện để tiến hành đăng ký kết hôn và xin nhập quốc tịch Việt Nam.

“Nếu theo đúng quy định của pháp luật thì có lẽ rất nhiều trường hợp sẽ không thể đăng ký kết hôn”, Giám đốc Sở Tư pháp Quảng Trị Võ Công Hoan khẳng định. Tại Sơn La, tình hình cũng tương tự, Sở Tư pháp Sơn La đã phải xin ý kiến Bộ Tư pháp về vấn đề này.

Theo đó, Sở Tư pháp Sơn La mạnh dạn đề nghị: Trước mắt để hoàn thiện hồ sơ cho những đối tượng người có quốc tịch nước ngoài đã được thống kê, lập danh sách cần phải hợp lý hoá mối quan hệ hôn nhân gia đình giữa họ với công dáoan Việt Nam mà thực chất mối quan hệ này đang tồn tại trên thực tế. Vì thế cần phải ưu tiên giải quyết theo hướng đơn giản hoá tối đa về thủ tục (giấy tờ, thời gian giải quyết).

Đối với những trường hợp không thể lấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì giải quyết theo hướng để họ tự cam đoan và chịu trách nhiệm cá nhân về tình trạng hôn nhân của mình.

Sau khi hoàn thiện hồ sơ, UBND cấp xã có thể đăng ký ngay mà không cần niêm yết thông báo và gửi hồ sơ về Sở Tư pháp thẩm định cho ý kiến nữa. Đồng thời giải quyết luôn việc đăng ký khai sinh cho trẻ em là con của những trường hợp này nếu chưa được đăng ký.

Giải pháp nói trên ở thời điểm hiện nay là tình thế xong cũng cần xem xét để giải quyết những vướng mắc đặt ra từ thực tiễn hiện nay.

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định mới năm 2020 ? Điều kiện kết hôn

5. Hiểu thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng ?

Kính chào luật sư. Luật sư cho tôi hỏi vợ chồng tôi mới cưới nhau mấy ngày trong lúc ăn cơm xong vợ tôi lên phòng nằm bấm điện thoại, lúc đó tôi đi lên tôi nói ăn cơm xong thì ngồi đó với ba mẹ rồi rửa chén bát giùm cho ba mẹ chứ ngồi bấm điện thoại mãi thế thì vợ chồng tôi có cãi nhau.
Lúc đó vợ tôi tức giận nên bỏ đi lên nhà vợ e tôi, tôi cũng đi tìm vợ tôi xin lỗi cũng lên gặp ba mẹ vợ tôi xin lỗi nhưng vợ tôi vẫn không chịu về nhà. Rồi vài ngày sau vợ tôi đi ăn sinh nhật e vợ tôi ko cho tôi đi cùng. Tôi gọi điện thoại bao nhiêu cuộc vợ tôi cũng ko nghe máy, lúc đó tôi gọi ba tôi lên thì vợ tôi mới chịu ra gặp tôi trong lúc nóng giận tôi có tát vợ tôi 1 cái thì bạn bè vợ tôi ra đánh tôi. Hiện vợ chồng tôi đang sống li thân giờ đây vợ tôi làm đơn li hôn đơn phương. Trong trường hợp này kính mong luật sư giải đáp cho tôi là trường hợp này là nghiêm trọng không và tòa có giải quyết li hôn đơn phương cho vợ tôi hay không ?
Mong luật sư giải đáp. Cám ơn.

Trả lời:

Thứ nhất, Quyền ly hôn:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 việc giải quyết thủ tục ly hôn có thể tiến hành theo 2 hướng:

1/ Thuận tình ly hôn: cả hai cùng đồng ý ly hôn và cùng ký tên trên đơn và thỏa thuận được các vấn đề về quyền nuôi con sau khi ly hôn và phân chia tài sản không còn tranh chấp gì.

2/ Đơn phương ly hôn (Yêu cầu ly hôn từ 1 phía): Trường hợp 1 bên vợ hoặc chồng không đồng ý ly hôn thì có thể giải quyết theo hướng đơn phương ly hôn

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."
"Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."
"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

=> Như vậy: Vợ anh có quyền làm đơn phương ly hôn, tuy nhiên việc ly hôn theo yêu cầu của một bên phải có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thứ hai, Vấn đề bạo lực gia đình:

Theo Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
" Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình
1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Thứ ba, tình trạng trầm trọng trong hôn nhân:
Tình trạng vợ, chồng trầm trọng khi: Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.
Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như: Thường xuyên đánh đập hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.
Vợ chồng không chung thủy (ngoại tình): Có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.
Kết luận: Như vậy đối với trường hợp này vợ bạn nếu như với thông tin bạn cung cấp thì cũng chưa thể coi là trầm trọng trừ khi bạn cũng đồng ý ly hôn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.0159 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định pháp luật mới về bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân