Để bào vệ các loài động thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng và cùng cộng đồng quốc tế kiểm soát và điều chỉnh việc buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp, Cho tới nay đã có khoảng 140 quốc gia là thành viên của Công ước này.

1. Nghĩa vụ cùa Việt Nam khi tham gia Công ước CITES

Là một bên tham gia Công ước, Việt Nam có trách nhiệm phải cam kết thực hiện các nghĩa vụ của công ước là bảo vệ các loài động vật, thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng thông qua thực hiện việc cấm buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ tuyệt chủng và điều hoà, giám sát chặt chẽ việc buôn bán các loài khác. Các bên tham gia Công ước cam kết phối hợp các nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu của Công ước, trong đó tập trung vào việc lập danh sách các loài động vật, thực vật hoang dã theo 3 phụ lục để áp dụng các biện pháp quản lí khác nhau.

Các nước thành viên tiến hành những biện pháp thích hợp để thi hành có hiệu lực các điều khoản của Công ước và để cấm buồn bán các loài thuộc Phụ lục 1. Các biện pháp đó là:

- Phạt việc buôn bán hoặc lưu giữ các mẫu vật.

- Tịch thu hoặc ttả lại nước xuất khẩu các mẫu vật bị lưu giữ.

Các mẫu vật sau khi bị tịch thu sẽ được giao cho cơ quan có thẩm quyền quản lí. Sau khi trao đổi ý kiến với quốc gia xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền quản lí sẽ ttả lại mẫu vật cho quốc gia đó và quốc gia này sẽ chịu toàn bộ phí tổn hoặc mẫu vật sẽ được chuyển cho trung tâm cứu hộ hay một noi nào đó mà cơ quan thẩm quyền quản lí cho là thích hợp và phù hợp với mục tiêu của công ước. Trung tâm cứu hộ là cơ sở trông nom, chăm sóc các mẫu vật sống bị tịch thu.

Các nước thành viên đảm bảo hoàn tất các thủ tục xuất nhập một cách nhanh chóng cho các loài động thực vật hoang dã được phép xuất khẩu.

Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho mọi mẫu vật sống phải được chăm sóc thích hợp nhằm hạn chế tối đa các tổn thương về sức khoẻ hay cách đối xử thô bạo trong quá trình vận chuyển hoặc quá cảnh.

2. Thực thi Công ước CITES ở Việt Nam

- Về tổ chức thực thi công ước CITES:

Bộ lâm nghiệp (nay thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) là cơ quan quản lí nhà nước thống nhất chịu trách nhiệm liên hệ với ban thư kí công ước và các nước thành viên của công ước, được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ về các hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã. Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (IEBR) thuộc Viện khoa học và công nghệ Việt Nam và Trung tâm tài nguyên và môi trường thuộc Đại học quốc gia Hà Nội (CRES) là 2 cơ quan thẩm quyền khoa học làm tư vấn khoa học cho cơ quan thẩm quyền quản lí.

Thực hiện sự phân công của Chính phủ, ngày 21/4/2000, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã kí Quyết định số 43/2000/QĐ-BNNPTNT/TCCB thành lập Văn phòng CITES Việt Nam với chức năng là bộ phận thường trực của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trong việc thực thi Công ước CITES. Văn phòng CITES Việt Nam đặt tại Cục kiểm lâm thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Lực lượng chủ chốt trong việc tổ chức thực thi Công ước CITES và các văn bản pháp luật có liên quan ở Việt Nam là lực lượng kiểm lâm. Bên cạnh đó, các cơ quan có liên quan như công an, hải quan, quản lí thị trường, môi trường đã có sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ động vật, thực vật hoang dã.

+ Xây dựng chính sách, pháp luật:

Trong những năm qua, hành lang pháp ư cho việc bảo vệ các loài động thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng đã có những bước phát triển rất đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, pháp luật về bảo vệ các loài động vật mới chỉ giới hạn trong việc bảo vệ các loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng mà thiếu các quy định pháp luật về bảo vệ các loài khác. Hiện tại, các loài động vật khác nhau được phân chia theo môi trường sống khác nhau của chúng (trên cạn hoặc dưới nước) và việc quản lí các loại động vật này thuộc thẩm quyển của các cơ quan khác nhau, cũng như việc bảo vệ chúng được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác nhau. Chưa có sự thống nhất pháp lý việc quản lí và bảo vệ các loài trên đất liền cũng như ở dưới nước.

Pháp luật về bảo vệ và phát triển các loài thực vật mới tập trung vào việc điều chỉnh một nhốm các sản phẩm thực vật rừng mà chưa có các quy định mang tính tổng thể.

Nhìn chung, khung pháp lý cho việc kiểm soát hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã ở nước ta hiện còn nhiều bất cập và chồng chéo. Ngành kiểm lâm, quản lí thị trường, hài quan... đều ban hành những văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này mà thiếu sự phối hợp thông nhất.

+ Các hoạt động cụ thể khác

- Xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát buồn bán động vật, thực vật hoang dã. Đây sẽ là cơ sở nhằm kết hợp sức mạnh tổng hợp trên toàn quốc để kiểm soát và tiến tới châm dứt tình ttạng buôn bán bất hợp pháp và không bền vững các loài động thực vật hoang dã.

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ các loài động thực vật hoang dã, trong đó chú trọng việc khơi dậy truyền thống yêu thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên của người dân Việt Nam. Ngoài ra, các tập tục, tín ngưỡng của người dân trong việc bảo vệ các loài cây, các loài động vật cũng đóng vai trò quan trọng.

- Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ bảo vệ động thực vật hoang dã, đặc biệt là năng lực về nhận dạng, đánh giá các loài thú, loài cây quý hiếm.

- Đẩy mạnh công tác kiểm ưa, kiểm soát các hoạt động săn bắt, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ động thực vật hoang dã trên thị trường.

Các chi cục kiểm lâm đã kết hợp với công an, hải quan, quản thị trường kiểm ưa việc buôn bán, vận chuyển, động thực vật hoang dã ưái phép, đậc biệt là các loài động vật hoang dã. Theo báo cáo của các chi cục kiểm lâm thì số lượng động vật hoang dã thường được chở từ các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc về các tỉnh đồng bằng, từ các tỉnh phía Nam ra phía Bắc. Trong thời gian qua, chúng ta đã có những bước tiến dài về kiểm soát và ngăn chặn việc buôn bán bất hợp pháp động thực vật quý hiếm qua biên giới. Tuy nhiên, việc khai thác, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã ưái phép và các sản phẩm của chúng vẫn chưa được ngăn chặn, có chỗ có nơi còn nghiêm trọng. Việc khai thác và săn bắn bừa bãi trong rừng đã làm giảm đáng kể tính đa dạng sinh học của các vùng rừng Việt Nam. Hàng loạt các loài động vật quý hiếm bị săn bắt, bẫy được thị trường nội địa tiêu thụ do nhu cầu rất cao.

3. Xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên

Như đã nêu ở phần trên, Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định của Chính phủ số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cùng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến khai thác và quản lí tài nguyên thiên nhiên như Luật đa dạng sinh học, Luật đất đai, Luật tài nguyên nước, Luật khoáng sản, Luật bảo vệ và phát triển rừng... và các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của con người khi có những tác động nhất định vào môi trường gây ảnh hưởng đến môi trường đã tạo ra một khuôn khổ pháp tí cho việc bảo vệ môi trường một cách đồng bộ và tương đối toàn diện.

Với nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải được phát hiện, xử phạt kịp thời và bị đình chỉ ngay; việc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả về môi trường do hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật và việc xử tí hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp Xử lý thích hợp.

Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường tự nhiên được quy định cụ thể tại các văn bản sau:

- Chương XVII, Bộ luật hình sự năm 2015, 2017 về các tội phạm về môi trường quy định các tội danh có liên quan đến đa dạng sinh học và môi trường thiên nhiên như: Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; tội hủy hoại rừng; tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm; tội vi phạm các quy định về quản lí khu bào tồn thiên nhiên; tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.

- Xử lý hành vi vi phạm pháp luật hành chính theo quy định của Nghị định của Chính phủ số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính ưong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)