1. Hiểu thế nào về thương lượng?

Thương lượng hình các hình thức giải quyết khi có tranh chấp giữa các bên xảy ra, chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế. Thay bằng việc nhờ đến sự can thiệp của bên thứ ba như Tòa án hay Trọng tài, thì các bên xảy ra tranh chấp sẽ cùng nhau tự thỏa thuận, bàn bạc để giải quyết các vấn đề đang gặp tranh chấp

Đây là phương thực được thực hiện chủ yếu dựa vào sự tự nguyện, thiện chí của các bên, không bị ép buộc bởi bất cứ điều gì

Tuy có nhiều ưu điểm nhưng phương thức này chỉ được áp dụng đối với những loại tranh chấp mà có giá trị tài sản tranh chấp nhỏ, lợi ích xung đột không đáng kể và chỉ được áp dụng khi các bên thực có thiện chí thương lượng

Đối với biện pháp giải quyết tranh chấp này, nó sẽ gồm những đặc điểm riêng biệt như:

– Khi đã quyết định áp dụng biện pháp này tức là sẽ chỉ có các bên xảy ra tranh chấp tự thỏa thuận, thống nhất với nhau mà không có sự can thiệp của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào khác không liên quan đến tranh chấp (bên thứ ba);

– Bản chất của thương lượng là quá trình thỏa thuận, bàn bạc. Trong quá trình này các bên sẽ đưa ra các quan điểm mang tính cá nhân của riêng tổ chức mình, những mong muốn, nguyện vọng hay ý kiến về cách giải quyết tranh chấp rồi từ đó sẽ cùng nhau thống nhất ý kiến chọn ra cách giải quyết phù hợp nhất và có lợi cho các bên tranh chấp

– Đây là biện pháp giải quyết mang tính đơn giản, tuy nhiên nó lại chỉ có thể thực hiện được khi các bên thực sự có thiện chí thì mới có thể cùng ngồi xuống giải quyết vấn đề

– Đây là việc chỉ diễn ra giữa các bên đang có tranh chấp nên pháp luật không có quy định nào về thời gian, địa điểm cụ thể diễn ra thương lượng, mà vấn đề này sẽ do các bên tự bàn bạc về thời gian và địa điểm phù hợp

Thương lượng luôn có ưu điểm là đơn giản, hiệu quả, nhanh chóng, thuận tiện, ít tốn kém chi phí của các bên.Các bên có tranh chấp xảy ra cũng có thể bảo vệ uy tín cho chính họ, bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Vai trò của thương lượng trong tranh chấp

– Vai trò quan trọng nhất của thương lượng trong tranh chấp là giúp giải quyết được tranh chấp mà không cần sự can thiệp của của Tòa án hay các cơ quan giải quyết tranh chấp khác theo quy định của pháp luật

– Giúp giải quyết được tranh chấp mà không làm ảnh hưởng đến uy tín khả năng học tác sau này của các bên tranh chấp

– Giúp cho các bên thể hiện được ý kiến của tổ chức mình

– Thương lượng giúp cho các bên đều bảo được sự công bằng trong việc thực hiện quyền và lợi ích của mình, tránh tình trạng xảy ra “bất công”, phải phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của bên chủ thể còn lại

Tuy thương lượng có vai trò và những ưu điểm không thể phủ nhận được, nhưng nó vẫn luôn tồn tại nhiều điểm hạn chế khiến cho biện pháp này chỉ có thể được áp dụng cho các tranh chấp có giá trị nhỏ, cụ thể như:

– Do thương lượng là kết quả của quá trình đàm phán, đóng góp ý kiến, quan điểm của các chủ thể, vì vậy đối với những tranh chấp diễn ra giữa nhiều chủ thể thì việc tìm ra được tiếng nói chung là rất khó, không thể thỏa mãn được mong muốn của tất cả các chủ thể

– Tiếp đó, không thể sử dụng trong có tranh chấp có giá trị tài sản lớn, do khi đó phần lợi ích bị ảnh hưởng của các bên chủ thể cũng là rất lớn, các bên đều muốn quyền lợi của mình được nhiều hơn, khi đó việc thương lượng sẽ không đưa ra được kết quả

– Việc thương lượng không thể thỏa mãn được lợi ích, mong muốn của các bên tranh chấp một cách tuyệt đối như khi giải quyết thông qua bên thứ ba

3. Quy trình thương lượng tập thể

3.1. Khái niệm

Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Lao động 2019 về thương lượng tập thể, thì:

Thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Vậy hiểu đơn giản, thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Đồng thời giúp xác lập các điều kiện lao động để ký kết thỏa ước lao động tập thể.

Thương lượng tập thể hỗ trợ khả năng thích ứng của doanh nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng.

Thương lượng tập thể có những vai trò sau
- Thương lượng lao động tập thể sẽ đem lại chất lượng làm việc tốt hơn vì cả hai bên đều đồng thuận, và cảm thấy hài lòng về các điều khoản cam kết trong thỏa ước lao động. NLĐ và NSDLĐ đều có được những quyền lợi nhất định và có những nghĩa vụ và cam kết phải tuân theo.
- Thương lượng tập thể mang lại  là tính công bằng trong công việc, quản lý, đem đến sự tin tưởng, và tránh được nhiều tranh chấp lao động không đáng có đã có một cơ chế minh bạch, rõ ràng được hai bên thỏa thuận và đồng thuận.
- Thương lượng tập thể là cơ hội tốt để doanh nghiệp đánh giá được nguồn nhân lực đang có và hiểu được thêm những khó khăn hay mong muốn năng cao tay nghề, kỹ năng mà NLĐ đang cần. Từ đó, doanh nghiệp và đại diện công đoàn hay các tổ chức khác có thể phối hợp với nhau để thiết kế và triển khai các khóa đào tạo theo cấp doanh nghiệp hay cấp tỉnh.
- Thương lượng lao động tập thể giúp tăng cường đối thoại giữa NSDLĐ và NLĐ và góp phần giúp bình ổn hóa và củng cố quan hệ lao động giữa NSDLĐ và NLĐ. Thương lượng lao động tập thể tạo ra một cơ chế dân chủ nơi mà tiếng nói của NSDLĐ và NLĐ được lắng nghe, thấu hiểu và đồng thuận. Thỏa ước lao động tập thể có thể xem là một bộ quy tắc ứng xử giữa quản lý và công nhân được hai bên đồng thuận và cam kết tuân theo. Bộ quy tắc ứng xử này không chỉ đơn thuần văn hóa nhà xưởng, quan hệ lao động tại nơi làm việc mà còn mang tính chất pháp lý.

- Thương lượng lao động tập thể mang lại những tác động tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp nhờ sự chia sẻ thông tin thường xuyên giữa NLĐ và NSDLĐ giúp việc phổ biến chính sách, thông tin và khuyến khích sự tham gia của người lao động trong các hoạt động của doanh nghiệp.

3.2. Quy trình thương lượng

Quy trình thương lượng gồm 03 bước cơ bản:

– Đề xuất yêu cầu thương lượng tập thể:

+ Trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động, nếu các bên (tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động) thấy cần phải thương lượng tập thể thì có quyền yêu cầu phía bên kia thương lượng tập thể. Bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng.

+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, các bên thỏa thuận thời gian bắt đầu phiên họp thương lượng.

– Chuẩn bị thương lượng tập thể:

+ Về phía người sử dụng lao động: Trước phiên họp thương lượng tập thể ít nhất 10 ngày, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, khi tập thể lao động yêu cầu trừ những bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động.

+ Về phía tập thể lao động: Đại diện thương lượng của bên tập thể lao động phải tổ chức lấy ý kiến trực tiếp của tập thể lao động hoặc gián tiếp thông qua hội nghị đại biểu của người lao động về đề xuất của người lao động với người sử dụng lao động và các đề xuất của người sử dụng lao động với tập thể lao động.

+ Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi bắt đầu phiên họp thương lượng tập thể, bên đề xuất yêu cầu thương lượng tập thể phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết về những nội dung dự kiến tiến hành thương lượng tập thể.

– Tiến hành thương lượng tập thể

+ Được thực hiện thông qua phiên họp thương lượng tập thể, do người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức phiên họp thương lượng tập thể theo thời gian, địa điểm do hai bên đã thỏa thuận.

+ Việc thương lượng tập thể phải được lập biên bản, có những nội dung đã được hai bên thống nhất, thời gian dự kiến ký kết về các nội dung đã đạt được thoả thuận với đầy đủ chữ ký của đại diện tập thể lao động, của người sử dụng lao động.

+ Trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp thương lượng tập thể, đại diện thương lượng của bên tập thể lao động phải phổ biến rộng rãi, công khai biên bản phiên họp thương lượng tập thể cho tập thể lao động biết.

+ Trường hợp thương lượng không thành một trong hai bên có quyền tiếp tục đề nghị thương lượng hoặc tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Thương lượng tập thể là một trong những cách thức hiệu quả nhằm xây dựng mối quan hệ lao động ổn định và bền vững. Về cơ bản, các quy định của pháp luật Việt Nam về thương lượng tập thể được đánh giá là thống nhất và tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn bỏ sót một số nội dung quan trọng, khó áp dụng hoặc mới chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp. Do đó, cần có sự thay đổi, hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật liên quan về thương lượng tập thể.

4. Thỏa thuận bằng thương lượng

Khi lập hợp đồng, các bên có thể thoả thuận đưa tên trọng tài viên giải quyết, những tranh chấp có thể xảy ra trong việc giải thích hoặc thi hành hợp đồng.
Trong các hợp đồng, thường có điều khoản về thương lượng để việc tranh chấp được giải quyết nhanh chóng và ít tốn kém vì Tòa án thương mại không phải xét xử theo thủ tục thông thường.
Điều khoản về thương lượng được ghi trong những hợp đồng có tính chất kinh doanh đối với tất cả các bên, nhưng không được phép ghi trong hợp đồng theo tính chất kinh doanh đối với bên này nhưng không có tính chất kinh doanh đối với bên kia.
Nếu đã thỏa thuận về điều khoản thương lượng thì một bên không được tự mình tử bỏ và kiện tại Tòa án thương mại, nhưng nếu các bên nhất trí không đưa ra trọng tải viên thì Tòa án thương mại có thẩm quyền xétt xử.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật  trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!