1. Khái niệm

Tiền tệ nới lỏng (EASY MONEY) là nói về tín dụng dành cho công chúng thông qua hệ thống ngân hàng, khi Dự trữ Liên bang cho phép tín dụng ngân hàng mở rộng. Khi Dự trữ Liên bang cho phép tích lũy khoản dự trữ thì lãi suất ổn định, nếu không sụt giảm. Các chính sách tiền tệ nới lỏng có thể khuyến khích phát triển kinh tế và thậm chí lạm phát, nếu thực hiện cho một kỳ hạn kéo dài. Ngược với tiền tệ thắt chặt.

 

2. Bàn về nới lỏng tiền tệ

Ngược lại với các chính sách thắt chặt tiền tệ, việc nới lỏng tiền tệ. Nới lỏng tiền tệ thuộc về nhóm chính sách tiền tệ phi truyền thống được ngân hàng trung ương (NHTW) sử dụng nhằm kích thích nền kinh tế khi các chính sách tiền tệ truyền thống đã bị vô hiệu. NHTW áp dụng nới lỏng định lượng bằng cách mua các tài sản tài chính từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tư nhân khác (quỹ hưu trí, doanh nghiệp) nhằm bơm một lượng tiền xác định vào nền kinh tế.

Biện pháp này khác so với cách truyền thống là mua-bán trái phiếu chính phủ nhằm giữ lãi suất thị trường ở mức mục tiêu. Nới lỏng tiền tệ sẽ làm tăng dự trữ dư thừa (mức cao hơn dự trữ bắt buộc) tại các ngân hàng, và làm tăng giá của tài sản tài chính, từ đó làm giảm lợi suất của các tài sản này.

Chính sách nới lỏng tiền tệ mở rộng thường bao hàm nghiệp vụ NHTW mua trái phiếu chính phủ ngắn hạn nhằm làm giảm các mức lãi suất ngắn hạn trên thị trường. Tuy nhiên, khi lãi suất ngắn hạn đã gần ở mức 0 hoặc bằng 0%, thì chính sách tiền tệ truyền thống sẽ không thể hạ thấp lãi suất được nữa. Nới lỏng tiền tệ có thể được sử dụng nhằm kích thích kinh tế bằng cách mua các tài sản dài hạn (không phải là trái phiếu chính phủ ngắn hạn), và như vậy sẽ khiến lãi suất dài hạn giảm xuống.

Khi các ngân hàng thương mại bán được tài sản cho NHTW các ngân hàng này sẽ có nhiều tiền hơn để cho vay, từ đó nền kinh tế sẽ có nhiều tiền để tài trợ cho các dự án kinh doanh; các dự án kinh doanh sẽ sử dụng nhiều nhân công hơn; việc làm được tạo ra và kinh tế được kích thích để phát triển. Đối với chính sách tiền tệ của Fed, mục tiêu giảm thiểu thất nghiệp là mục tiêu cao nhất, khác với ưu tiên của các NHTW khác trên thế giới, ví dụ ECB ưu tiên giữ lạm phát trong tầm kiểm soát.

Ở Việt Nam, động thái chính sách như hạ trần lãi suất, giảm lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, hay yêu cầu các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay… của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian cuối năm 2019 được thị trường dẫn giải rằng, nhà điều hành đã chủ động đón đầu những biến động bất trắc của kinh tế toàn cầu; với độ trễ chính sách, giải pháp này đang và sẽ hỗ trợ giảm bớt khó khăn lên hoạt động kinh tế trong thời điểm hiện nay.

Với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng cân đối nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh.

Đồng thời chủ động nắm bắt tình hình sản xuất - kinh doanh, mức độ thiệt hại của khách hàng đang vay vốn do ảnh hưởng của dịch để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay...

Bản thân các ngân hàng thương mại, ngay khi dịch Covid-19 diễn ra, cũng nhanh chóng rà soát khách hàng chịu ảnh hưởng và tự đưa ra các giải pháp hỗ trợ như hạ lãi suất cho vay, ưu đãi phí dịch vụ thanh toán… theo nguyên tắc “hỗ trợ khách hàng chính là hỗ trợ mình”. Khách hàng vượt qua khó khăn thì dòng vốn huy động cho vay sẽ ổn định, rủi ro nợ xấu giảm đi.

Mặc dù mới có những đánh giá sơ bộ ban đầu, nhưng phải thừa nhận rằng, dịch Covid-19 chắc chắn sẽ tạo ra khó khăn nhất định cho nền kinh tế.

Đánh giá của Nhóm Nghiên cứu BIDV đưa ra 3 kịch bản, kịch bản nào cũng đều khiến tăng trưởng GDP năm nay giảm so với dự kiến. Báo cáo của các công ty chứng khoán như VNDirect, KBSV... cũng cho kết quả tương tự.

Công ty Chứng khoán KB (KBSV) còn dự báo về khả năng NHNN có thể nới tăng trưởng tín dụng vượt mức đề ra (14%) nếu mục tiêu tăng trưởng GDP 6,8% của Chính phủ gặp khó khăn.

Nới lỏng tiền tệ là cách phổ biến nhất để kích cầu: Trung Quốc và Singapore bơm lần lượt 1.700 tỷ nhân dân tệ và 5,6 tỷ USD Singapore để kích cầu; Trung Quốc cũng hạ hạ lãi suất 10 điểm cơ bản đối với khoảng 200 tỷ nhân dân tệ (28,65 tỷ USD) giá trị các khoản vay trung hạn có kỳ hạn một năm (MLF), tức từ 3,25%/năm trước đây xuống 3,15%/năm như hiện nay.

Hệ quả của chính sách nới lỏng tiền tệ đó là nguy cơ chiến tranh tiền tệ, biến động động tỷ giá và áp lực lạm phát.

 

3. Nới lỏng định lượng

Nới lỏng định lượng (tiếng Anh: Quantitative easing, viết tắt là QE) là một phương thức của ngân hàng trung ương để kích thích kinh tế bằng cách mua trái phiếu cùng những tích sản khác từ các ngân hàng thương mại hầu giảm lãi suất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

Tăng lưu hoạt có hạn định được áp dụng khi những phương thức bình thường không hiệu nghiệm. Khi ngân hàng trung ương mua trái phiếu của các ngân hàng tư thì sẽ đẩy giá trị trái phiếu tăng lên còn lợi nhuận (yield) sẽ giảm, cùng lúc lượng tiền cơ sở sẽ lớn hơn. Phương thức này khác cách thức kích thích thường dùng như mua bán công trái ngắn hạn để giữ lãi suất ở tầm kiểm soát.

Phương thức mua công trái ngắn hạn chỉ hiệu nghiệm khi lãi suất cao. Khi lãi suất chỉ xấp xỉ 0% thì phương thức thường không đủ để xoay chuyển kinh tế. Lúc đó ngân hàng trung ương sẽ tìm cách tăng lưu hoạt có hạn định bằng cách mua vào trái phiếu dài hạn để mở rộng tầm hiệu quả.

Gia tăng lưu hoạt có khả năng giữ lạm phát ở mức hữu ích. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)thì phương thức này đã giúp giảm thiểu tác động xấu trong cuộc Khủng hoảng tài chính 2007–08.

 

4. Hoạt động của tiền tệ nới lỏng

Một chính sách tiền tệ dễ dàng có thể dẫn đến giảm tỷ lệ dự trữ tại các ngân hàng. Có nghĩa là các ngân hàng có thể giữ ít tiền mặt, dẫn đến nhiều tiền hơn cho người vay, lãi suất thấp hơn.

Ví dụ, trong giai đoạn nới lỏng chính sách tiền tệ, Cục Dự trữ Liên bang có thể hướng dẫn Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) mua chứng khoán được Kho bạc tài trợ trên thị trường mở. Việc mua các chứng khoán này đồng nghĩa với việc cung cấp tiền cho những người bán chúng trên thị trường mở. Người bán sau đó gửi tiền kiếm được vào tài khoản tiết kiệm. Tiền thêm vào tài khoản tiết kiệm giúp các ngân hàng có thêm tiền để đầu tư.

Các ngân hàng có thể tiếp tục đem các khoản tiền gửi mới để cho vay hoặc đầu tư theo những cách khác. Người cho vay sau đó kiếm tiền bằng tiền lãi và tiền gửi vào các tài khoản ngân hàng khác hoặc người vay sẽ chi tiêu các khoản vay cho bất kỳ thứ gì họ có nhu cầu, từ đó, kích thích các hoạt động kinh tế khác. Quá trình này tiếp tục vô thời hạn cho đến khi Cục Dự trữ Liên bang quyết định thắt chặt chính sách tiền tệ.

 

5. Ngân hàng thương mại, vị trí và vai trò ngân hàng

Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn. Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn.

Do ảnh hưởng của chúng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế, các ngân hàng bị quy định cao tại hầu hết các nước. Hầu hết các ngân hàng hoạt động theo một hệ thống được gọi là hoạt động ngân hàng dự trữ phân đoạn mà họ chỉ nắm giữ một dự trữ nhỏ của các khoản tiền gửi và cho vay phần còn lại để kiếm lời. Điều này nói chung là tùy thuộc vào các yêu cầu vốn tối thiểu được dựa trên một bộ tiêu chuẩn quốc tế về vốn, được gọi là Hiệp ước vốn Basel.

Hoạt động ngân hàng theo nghĩa hiện đại của nó đã phát triển từ thế kỷ 14 tại các thành phố giàu có của Ý thời Phục hưng nhưng trong nhiều cách là một sự tiếp nối của những ý tưởng và khái niệm của tín dụng và cho vay bắt nguồn từ thế giới cổ đại. Trong lịch sử hoạt động ngân hàng, một số triều đại ngân hàng đã đóng một vai trò trung tâm trong nhiều thế kỷ.

Định nghĩa của một ngân hàng khác nhau giữa các nước. Xem trang quốc gia có liên quan (dưới đây) để biết thêm thông tin.

Theo thông luật Anh, người hoạt động ngân hàng được định nghĩa là người thực hiện kinh doanh hoạt động ngân hàng, được xác định là:[7]

  • quản lý các tài khoản vãng lai cho khách hàng của mình,
  • trả tiền các séc được khách hàng rút tiền, và
  • thu tiền các séc cho các khách hàng của mình.

 

Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được

Với chức năng của ngân hàng ta có thể kể đến các chức năng sau:

- Chức năng trung gian tín dụng

  • Người có vốn (ủy thác đầu tư và gửi tiền) Ngân hàng thương mại (Cho vay, đầu tư) Người cần vốn học xuất nhập khẩu
  • Đây là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ cở để thực hiện hai chức năng còn lại.

- Chức năng trung gian thanh toán

Cách thức thực hiện: Trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho người thụ hưởng theo lệnh của chủ tài khoản; Dựa vào chức năng trung gian tín dụng

+ Ý nghĩa của chức năng này:

  • Tiết kiệm chi phí lưu thông, đảm bảo thanh toán nhanh chóng, an toàn và hiệu quả
  • Thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn
  • Góp phần phát triển kinh tế mẫu 08-mst ban hành kèm theo thông tư 95
  • Tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán
  • Tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng

Chức năng trung gian thanh toán là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại

- Chức năng tạo tiền

  • Là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại
  • Làm thăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội
  • Chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ

Vai trò Ngân hàng:

- Cung cấp nhu cầu vay vốn cho sự phát triển kinh tế

  • Tạo nền: Tạo vốn cho sự phát triển kinh tế
  • Biến tiết kiệm thành đầu tư

- Nâng cao hiệu quả kinh tế

  • Rút ngắn tốc độ lưu thông hàng hóa và tiền tệ
  • Góp phần làm cho sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục không bị đứt quãng cung cấp vốn đầu tư và các công cụ lưu thông tín dụng biểu thuế xuất nhập khẩu 2020

- Tham gia kiểm soát các hoạt động kinh tế

Tham gia vào sự ổn định của thị trường tài chính và thị trường chứng khoán. Tạo điều kiện phát triển nên những thị trường này thông qua việc chiết khấu giải quyết khả năng lưu thông nhanh của chứng khoán

- Cung cấp thông tin, tư vấn và dịch vụ đầu tư.