- 1. Quy định pháp luật về tiền thưởng ngày Quốc khánh 02/9
- 2. Tiền thưởng lễ 02/9 có phải chịu thuế thu nhập cá nhân không?
- 3. Các khoản tiền thưởng không tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định
- 4. Hướng dẫn xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền thưởng lễ
- 5. Cách tính thuế thu nhập cá nhân đối với tiền thưởng vượt mức quy định
- 6. Những lưu ý cho người lao động và doanh nghiệp về tiền thưởng ngày lễ
1. Quy định pháp luật về tiền thưởng ngày Quốc khánh 02/9
Theo Điều 104 Bộ luật Lao động 2019, thưởng là số tiền, tài sản hoặc hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc. Như vậy, thưởng ngày Quốc khánh 02/9 về bản chất là một khoản thưởng theo chính sách của doanh nghiệp, không phải khoản chi bắt buộc mà pháp luật lao động buộc mọi doanh nghiệp phải trả.
Điểm cần phân biệt rõ là tiền thưởng lễ 02/9 khác với tiền lương làm thêm giờ vào ngày lễ 02/9. Nếu người lao động làm việc trong ngày nghỉ lễ Quốc khánh thì khoản phải trả theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 là tiền lương làm thêm giờ, đây là nghĩa vụ bắt buộc. Còn thưởng lễ 02/9 là khoản doanh nghiệp có thể chi hoặc không chi, tùy khả năng tài chính và quy chế nội bộ.
Để khoản thưởng có cơ sở pháp lý rõ ràng trong quan hệ lao động và trong hạch toán thuế doanh nghiệp, người sử dụng lao động nên quy định cụ thể điều kiện hưởng, mức hưởng hoặc nguyên tắc thưởng trong một trong các văn bản như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế tài chính hoặc quy chế thưởng. Đây là điểm rất quan trọng vì nó ảnh hưởng không chỉ đến quyền lợi người lao động mà còn đến khả năng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tính đến ngày 25/8/2026, pháp luật vẫn không ấn định một “mức thưởng 2/9 tối thiểu” hay “mức thưởng 2/9 được miễn thuế riêng”. Nói cách khác, có thưởng hay không, thưởng bao nhiêu là do doanh nghiệp quyết định; còn khi đã thưởng thì phải xem xét nghĩa vụ thuế theo quy định chung về thu nhập từ tiền lương, tiền công.
2. Tiền thưởng lễ 02/9 có phải chịu thuế thu nhập cá nhân không?
Câu trả lời là có. Theo quy định hiện hành, tiền thưởng lễ 02/9 là khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân. Quy định này được thể hiện khá rõ trong Thông tư 111/2013/TT-BTC: các khoản tiền thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán, về nguyên tắc đều tính vào thu nhập chịu thuế, trừ một số ngoại lệ rất hẹp do pháp luật quy định riêng.
Điều đó có nghĩa là nếu doanh nghiệp thưởng cho người lao động bằng tiền mặt, chuyển khoản, phiếu quà tặng, hiện vật hoặc lợi ích vật chất khác vào dịp 02/9 thì về nguyên tắc, giá trị của khoản thưởng đó vẫn phải cộng vào thu nhập chịu thuế của người lao động. Nếu thưởng bằng hiện vật hoặc bằng quyền lợi không phải tiền mặt, doanh nghiệp phải quy đổi ra giá trị tiền để tính thuế theo nguyên tắc chung.
Tuy nhiên, cần phân biệt tiếp giữa tiền thưởng lễ 02/9 và tiền lương làm thêm vào ngày lễ 02/9. Đối với tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm, pháp luật thuế cho phép miễn thuế đối với phần trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động. Phần miễn này áp dụng cho tiền lương làm thêm, không áp dụng cho tiền thưởng lễ thuần túy.
Vì vậy, nếu người lao động vừa được thưởng lễ 02/9, vừa đi làm vào ngày lễ, thì khoản thưởng lễ vẫn tính thuế theo quy định chung; còn khoản tiền lương làm thêm ngày lễ chỉ được miễn thuế ở phần chênh lệch trả cao hơn mức lương làm việc bình thường.
3. Các khoản tiền thưởng không tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định
Mặc dù nguyên tắc chung là thưởng phải tính thuế, pháp luật vẫn loại trừ một số nhóm tiền thưởng đặc biệt ra khỏi thu nhập chịu thuế. Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC, các khoản thưởng không tính thuế thu nhập cá nhân chủ yếu gồm bốn nhóm.
Thứ nhất là tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng do Nhà nước phong tặng hoặc công nhận theo pháp luật về thi đua, khen thưởng. Đây là những khoản gắn với danh hiệu, huân chương, bằng khen, giải thưởng cấp nhà nước chứ không phải thưởng nội bộ của doanh nghiệp.
Thứ hai là tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận.
Thứ ba là tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
Thứ tư là tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối chiếu với bản chất của thưởng lễ 02/9, có thể thấy khoản này không thuộc các ngoại lệ nêu trên. Đây chỉ là khoản doanh nghiệp chi thêm để động viên, khuyến khích hoặc tri ân người lao động trong dịp lễ. Vì vậy, thưởng lễ Quốc khánh 02/9 không nằm trong nhóm được miễn thuế thu nhập cá nhân.
4. Hướng dẫn xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền thưởng lễ
Tiền thưởng lễ 02/9 không bị đánh thuế theo một cơ chế riêng biệt, mà được cộng vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của kỳ trả thu nhập. Thông thường, nếu doanh nghiệp chi thưởng vào tháng 9 thì khoản này sẽ được cộng vào tổng thu nhập chịu thuế của tháng 9 để khấu trừ thuế tạm thời.
Trình tự xác định thường được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1 là xác định tổng thu nhập phát sinh trong kỳ, bao gồm lương, phụ cấp chịu thuế, khoản thưởng 02/9 và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công.
Bước 2 là loại trừ các khoản được miễn thuế, nếu có, chẳng hạn phần tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế theo quy định, một số khoản phụ cấp, trợ cấp không tính thuế theo Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Bước 3 là xác định thu nhập tính thuế bằng cách lấy thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ hợp lệ. Tính đến ngày 25/8/2026, mức giảm trừ gia cảnh đang áp dụng theo Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 là 11 triệu đồng/tháng đối với bản thân người nộp thuế và 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc đủ điều kiện. Ngoài ra còn được trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc người lao động phải đóng, và các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học đủ điều kiện theo luật.
Cần lưu ý rằng tiền thưởng lễ 02/9 không làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nếu đó là khoản thưởng riêng, không phải khoản lương, phụ cấp lương hay khoản bổ sung trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ lương. Vì vậy, khoản thưởng này thường vẫn cộng vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nhưng không làm tăng tiền đóng bảo hiểm xã hội.
5. Cách tính thuế thu nhập cá nhân đối với tiền thưởng vượt mức quy định
Cần nói rõ một điểm rất hay bị hiểu nhầm: pháp luật hiện hành không đặt ra một “mức thưởng lễ 02/9 được miễn” rồi phần vượt mới tính thuế. Nói đúng hơn, không có ngưỡng miễn thuế riêng cho thưởng lễ. Khi người lao động nhận thưởng, toàn bộ khoản thưởng sẽ được cộng vào thu nhập chịu thuế; sau đó mới tính thuế theo cơ chế áp dụng cho từng nhóm người lao động.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, tiền thưởng 02/9 được cộng vào lương và các khoản thu nhập chịu thuế khác trong tháng để tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Thu nhập tính thuế càng cao thì phần thu nhập nằm ở bậc cao hơn sẽ chịu thuế suất cao hơn, từ 5% đến 35%.
Ví dụ, người lao động có lương tháng 25 triệu đồng, được thưởng 02/9 thêm 10 triệu đồng, không có khoản miễn thuế đặc biệt nào ngoài giảm trừ gia cảnh và bảo hiểm bắt buộc. Khi đó, khoản thưởng 10 triệu đồng không bị tính thuế riêng theo một thuế suất cố định, mà được gộp vào tổng thu nhập tháng để xác định bậc thuế. Nói cách khác, khoản thưởng làm tăng thu nhập tính thuế và có thể đẩy một phần thu nhập sang bậc thuế cao hơn.
Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, nếu tổ chức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ 10% trên tổng số tiền trả trước khi chi trả. Cơ chế này là khấu trừ tại nguồn. Tuy nhiên, nếu cá nhân chỉ có duy nhất khoản thu nhập này và ước tính tổng thu nhập năm chưa đến mức phải nộp thuế, cá nhân có thể làm cam kết theo mẫu hiện hành để tạm thời chưa bị khấu trừ, với điều kiện đáp ứng đúng quy định.
Vì vậy, cách hiểu đúng về “thưởng vượt mức” là: không có mức thưởng lễ riêng được miễn thuế, mà phần thu nhập tính thuế sau giảm trừ sẽ được đánh thuế theo bậc hoặc bị khấu trừ 10% tùy loại hợp đồng lao động.
6. Những lưu ý cho người lao động và doanh nghiệp về tiền thưởng ngày lễ
Đối với người lao động, điều quan trọng đầu tiên là cần hiểu rõ khoản công ty thông báo là thưởng trước thuế hay sau thuế. Nhiều trường hợp doanh nghiệp công bố mức thưởng 5 triệu đồng nhưng đây là mức thưởng gộp, còn số tiền thực nhận có thể thấp hơn sau khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Nếu muốn biết chính xác, người lao động nên hỏi rõ đây là mức thưởng gộp hay mức thực lĩnh.
Người lao động cũng nên lưu ý rằng số thuế bị khấu trừ trong tháng có thưởng chỉ là số tạm khấu trừ. Khi quyết toán thuế năm, toàn bộ thu nhập cả năm sẽ được tính lại. Nếu tổng số thuế đã bị khấu trừ cao hơn số thực phải nộp, người lao động có quyền đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ vào nghĩa vụ thuế kỳ sau.
Đối với doanh nghiệp, thứ nhất cần ban hành và công bố rõ quy chế thưởng hoặc ghi nhận nội dung thưởng trong hồ sơ lao động, vì đây là căn cứ quan trọng để khoản chi thưởng được chấp nhận là chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo Thông tư 96/2015/TT-BTC.
Thứ hai, doanh nghiệp cần tách bạch rõ tiền thưởng lễ với tiền lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung trả thường xuyên. Việc tách bạch này giúp tránh nhầm lẫn khi xác định căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và khi giải trình với cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm.
Thứ ba, doanh nghiệp phải thực hiện đúng nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thưởng đã chi trả. Nếu trả cho người lao động thử việc, cộng tác viên hoặc người ký hợp đồng dưới 3 tháng mà số tiền từ 2 triệu đồng/lần trở lên, phải kiểm tra nghĩa vụ khấu trừ 10% và hồ sơ cam kết nếu có.
Thứ tư, trong trường hợp doanh nghiệp thưởng bằng hiện vật, phiếu quà tặng hoặc các lợi ích vật chất khác, vẫn phải xác định giá trị để hạch toán và tính thuế đúng quy định, không nên cho rằng chỉ thưởng bằng tiền mặt mới phát sinh thuế.
Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: