1. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

Trong bộ máy nhà nước ta, Toà án nhân dân có vị trí vô cùng quan trọng. Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: "Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật". Đây là cơ sở pháp lý để xác định vị trí quan trọng của Toà án nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Vị trí này xuất phát từ "tính hệ thống và tính chỉnh thể của hệ thống tư pháp bản thân chúng đã cho thấy rõ vai trò trung tâm của Toà án (khâu xét xử) trong hệ thống tư pháp"(1).

Có thể nói, trong nhiều giai đoạn lịch sử của Nhà nước ta, Toà án nhân dân đã trải qua những cuộc cải cách và đổi mới về tổ chức cũng như phương thức hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ ngày càng nặng nề của nền tư pháp, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Kết quả phát triển và lớn mạnh của Toà án nhân dân ngày nay thể hiện đậm nét sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân.

1- Những quan điểm cơ bản của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới

Quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới thể hiện ngay từ các văn kiện ban hành sau Đại hội VII. Quan điểm này được thể hiện ở nhiều văn kiện, trong đó có các văn kiện tiêu biểu như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 8-11-1993 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật"; Chỉ thị số 34 – TC/TW ngày 18-3-1994 của Ban Bí thư về "Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Thẩm phán Toà án quân sự các cấp"; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16-3-2000 của Bộ Chính trị về "Phạm vi trách nhiệm, quyền hạn giữa cấp uỷ Đảng với Đảng uỷ Công an, Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân, Ban Cán sự đảng Toà án nhân dân trong công tác bảo vệ Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên"; Chỉ thị số 53 – CT/TW của Bộ Chính trị ngày 21-3-2000 về "Một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000".

Nghiên cứu những chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức, hoạt động của Toà án nhân dân trong các văn kiện nêu trên, có thể nhận thấy, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới là hoàn toàn nhất quán, có sự kế thừa và phát triển từng bước. Đảng luôn quan tâm chỉ đạo nhằm kiện toàn đội ngũ cán bộ Toà án nhân dân. Đó là cho ý kiến về tổ chức của Toà án nhân dân, giới thiệu những cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao và phẩm chất chính trị vững vàng cho ngành Toà án; phát hiện và xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên có sai phạm công tác trong ngành Toà án. Đồng thời, Đảng lãnh đạo thực hiện chức năng xét xử theo quy định của pháp luật. Thông qua việc thường xuyên nghe báo cáo tổng hợp tình hình công tác của Toà án nhân dân, Đảng có cơ sở để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với hoạt động xét xử của Toà án. Đảng luôn xác định cải cách Toà án nhân dân là thể hiện tập trung của cải cách tư pháp. Nhưng cải cách Toà án nhân dân phải tiến hành đồng bộ với việc cải cách cơ quan điều tra, viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp khác. Trong đó, Đảng nhấn mạnh việc sắp xếp lại hệ thống Toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.

Điều rất đáng lưu ý là, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc cải cách tư pháp, ngày 02-01-2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới". Nghị quyết số 08 – NQ/TW đã đề cập một cách toàn diện vấn đề cải cách tư pháp, trong đó đưa ra cả những quan điểm chung và chủ trương, giải pháp cụ thể đối với từng cơ quan tư pháp. Đối với Toà án, Nghị quyết 08-NQ/TW nhấn mạnh: Cần phân định thẩm quyền của các Toà án các cấp theo hướng Toà án nhân dân tối cao làm nhiệm vụ tổng kết xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và giám đốc xét xử các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố chủ yếu thực hiện công tác xét xử phúc thẩm. Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động.

Sau khi Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được triển khai trên thực tế được gần 4 năm, ngày 2-6-2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020". Nghị quyết đề ra phương hướng: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học, hiện đại về cơ cầu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp". Nghị quyết xác định nhiệm vụ của Tòa án các cấp như sau: "Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm". Tuy nhiên, Nghị quyết cũng nhấn mạnh: "Việc thành lập Toà án chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Toà án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn, với đội ngũ Thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành".

Như vậy, có thể thấy, những quan điểm và phương hướng trên đây về cải cách tổ chức và hoạt động của Toà án có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt động cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay.

2 – Thực tiễn vận dụng quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân

Quán triệt quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, Nhà nước ta đã tiến hành sửa đổi, bổ sung và ban hành mới nhiều văn bản pháp luật trên cơ sở thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng. Đặc biệt, sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 đã đánh một mốc son quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 (được sửa đổi năm 1993), Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự năm 1993. Đây là những cơ sở pháp lý đánh dấu một bước tiến quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp mà điển hình là Toà án. Theo quy định tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992, Toà án nhân dân được xác định là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống Toà án theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định. Như vậy, so với các bản hiến pháp trước, có thể thấy, hệ thống cơ quan Toà án vẫn được giữ nguyên như cũ. Điểm khác biệt cơ bản ở chỗ, Hiến pháp năm 1992 quy định khả năng thành lập thêm các Toà án mới. Điều này bảo đảm khả năng thành lập các Toà án trong những trường hợp cần thiết để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội. Trong thực tế, quy định này đã được vận dụng bằng việc lập thêm Toà kinh tế, Toà hành chính và Toà lao động trong cơ cấu của Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao.

Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, chế độ bầu Thẩm phán trước đây được thay bằng chế độ bổ nhiệm; trong hệ thống Toà án nhân dân các cấp đã thành lập thêm một Toà chuyên trách để kịp thời giải quyết các loại tranh chấp mới phát sinh; đã bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm; chú ý đến chất lượng tranh tụng tại phiên toà. Trên cơ sở pháp luật thực định nêu trên, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Toà án đã thực sự chuyển mình trong tiến trình cải cách tư pháp do Đảng khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo thực hiện. Trên thực tế, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 đã có sự đổi mới về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Toà án: Trong cơ cấu của Toà án nhân dân tối cao không có Ủy ban thẩm phán; Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có sự thay đổi về thành phần với tổng số không quá 17 người; bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm của Toà án nhân dân tối cao; bỏ quy định về sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong xét xử ở Toà án nhân dân tối cao. Hiện nay, để cụ thể hoá quan điểm của Đảng được ghi nhận tại Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII, thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện ngày càng được mở rộng hơn, bảo đảm thực hiện hai cấp xét xử. Theo đó, Toà án nhân dân cấp huyện xét xử sơ thẩm, còn việc xét xử phúc thẩm được trao cho Toà án nhân dân cấp tỉnh. Toà án nhân dân tối cao chỉ làm nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, phúc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, chuẩn bị các dự án luật, hướng dẫn các Toà án địa phương thực hiện xét xử thống nhất theo pháp luật. Toà án nhân dân tối cao trực tiếp quản lý Toà án địa phương và Toà án quân sự về các mặt nghiệp vụ, chuyên môn và tổ chức cán bộ.

Những đổi mới về tổ chức và nhiệm vụ nêu trên của Toà án đã thể hiện sự quán triệt và vận dụng có hiệu quả đường lối lãnh đạo của Đảng về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, bảo đảm cho Toà án nhân dân phát huy vị trí pháp lý và vai trò của cơ quan xét xử trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3 – Một số vấn đề đặt ra về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trước đòi hỏi của Chiến lược cải cách tư pháp

Thứ nhất, theo pháp luật hiện hành, Toà án của nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính: Toà án tối cao, Toà án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện. Với quy định tổ chức toà án thành 3 cấp và trải đều trên tất cả các tỉnh của đất nước vô hình trung đã tạo ra một thực trạng có nơi toà án quá tải, có nơi toà án không có việc làm. Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của toà án còn chịu sự chi phối của cấp chính quyền tương đương và của cấp uỷ Đảng. Điều đó làm cho nguyên tắc đề cao và tuân thủ triệt để tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử chưa được bảo đảm.

Tương ứng với Toà án cấp huyện, cấp tỉnh là Hội đồng nhân dân cùng cấp nên cách tổ chức Toà án theo đơn vị hành chính hiện nay giải quyết được vấn đề giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, vấn đề bổ nhiệm Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán toà án và vấn đề bầu Hội thẩm nhân dân. Như vậy, để vận dụng quan điểm Toà án được bố trí theo khu vực mà Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đề ra thì thực tiễn tổ chức lại Toà án nhân dân các cấp phải giải quyết được vấn đề xác định "Toà án cấp sơ thẩm có thể bao gồm nhiều huyện, vậy chế độ báo cáo và chịu sự giám sát trước Hội đồng nhân dân được thực hiện như thế nào"(2). Tương tự như vậy, nếu thành lập Toà thượng thẩm thì vị trí pháp lý và mối quan hệ của nó với cơ quan trung ương và cơ quan địa phương sẽ được giải quyết như thế nào? Đây là vấn đề đòi hỏi phải có sự bổ sung về những quy định pháp luật để xác định trách nhiệm báo cáo và chịu trách nhiệm của Chánh án Toà cấp sơ thẩm (khi tổ chức thành toà khu vực) và Chánh án Toà thượng thẩm. Đồng thời, phải giải quyết cả những mâu thuẫn trong việc thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án và chế độ bầu Hội thẩm nhân dân đối với những Toà sơ thẩm khu vực được thành lập không cùng đơn vị hành chính cấp tỉnh. Bên cạnh đó, nếu tổ chức Toà thượng thẩm trong hệ thống Toà án để xét xử phúc thẩm những vụ án mà bản án và quyết định của Toà án cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị cũng cần phải tính tới cơ chế tuyển chọn Thẩm phán Toà thượng thẩm.

Thứ hai, trong quá trình cải cách tư pháp về việc bảo đảm nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật là một vấn đề đặt ra cần được giải quyết. Bởi lẽ, thực tế cho thấy, nhiều Thẩm phán khi xét xử vẫn chưa hoàn toàn độc lập. Việc báo cáo án và nhận sự định hướng xét xử từ lãnh đạo của Thẩm phán chỉ giải quyết được mối quan hệ hành chính giữa cấp trên và cấp dưới mà không đảm bảo được nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán. Bên cạnh đó, tình trạng hiệp thương án để trách nhiệm không thuộc về cơ quan nào trong các cơ quan tiến hành tố tụng cũng đang là vấn đề cần được thực tiễn cải cách tư pháp giải quyết.

Thứ ba, theo quy định pháp luật về Toà án hiện nay, vấn đề chức năng, nhiệm vụ của Toà án vẫn còn những bất cập, dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa cao. Có thể nói đến chức năng giải thích pháp luật. Hiện nay, Toà án tối cao có nhiều hướng dẫn không chính thức dưới dạng văn bản về nội dung một số điều luật. Đây thực chất là một trong những hiện tượng giải thích pháp luật. Đáng lẽ, thẩm quyền này thuộc về Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhưng trên thực tế, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ít khi thực hiện quyền này. Việc Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án cấp dưới xét xử xuất phát từ thực tiễn hoạt động của ngành, được nhiều Tòa án áp dụng, nhưng do không có chức năng giải thích pháp luật nên "sự hướng dẫn này không phải là căn cứ pháp lý công khai của việc tuyên án"(3).

Thứ tư, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ ngành Toà án chưa thật sự phù hợp với yêu cầu đặt ra của Chiến lược cải cách tư pháp do Đảng khởi xướng.

4 – Một số giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân

Một là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động tư pháp. Do đó, cần xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Toà án nhân dân để cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân có sự hợp lý hơn, nhằm bảo đảm cải cách Toà án phục vụ cho cải cách tư pháp.

Hai là, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khắc phục những bất cập trong tổ chức, hoạt động của Toà án nhân dân, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi luật theo hướng bảo đảm nguyên tắc độc lập trong xét xử cuả Toà án, tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án địa phương, tiến tới thực hiện tổ chức Toà án theo hai cấp xét xử; nghiên cứu thành lập Toà án khu vực, áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử. Theo hướng nêu trên, cần tiếp tục nghiên cứu tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Mô hình tổ chức hệ thống Toà án nhân dân có thể bao gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện (tuỳ thuộc vào yêu cầu xét xử ở từng đơn vị); Toà án phúc thẩm tổ chức theo đơn vị hành chính cấp tỉnh có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm và sơ thẩm một số vụ án có tính chất nghiêm trọng; Toà án thượng thẩm tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có chức năng tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và xét xử tái thẩm, giám đốc thẩm. Đối với các Toà án chuyên trách như Toà hành chính, Toà lao động, Toà dân sự, Toà hình sự, Toà vị thành niên… phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng khu vực, từng cấp toà án.

Ba là, nghiên cứu khả năng trao cho Tòa án quyền giải thích pháp luật, phán xét tính hợp pháp, hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành. Chức năng này hiện nay được giao cho các cơ quan như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ và các cơ quan khác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hoạt động giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật đạt hiệu quả chưa cao, biểu hiện là tình trạng các quy định của văn bản dưới luật mâu thuẫn với các quy định của văn bản luật diễn ra khá phổ biến. Kinh nghiệm của các nước trong việc giải quyết vấn đề này là chuyển việc giám sát và tuyên bố tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật cho toà án. Trên thực tế, cách thức này đã được thực hiện có hiệu quả ở rất nhiều nước. Chính vì vậy, đây có thể được coi là kinh nghiệm tốt có thể áp dụng vào thực tế nước ta hiện nay.

Bốn là, thời gian tới cần xây dựng chiến lược nâng cao trình độ cán bộ ngành Toà án; trang bị cơ sở vật chất – kỹ thuật tốt hơn nữa cho Toà án nhân dân cấp huyện để bảo đảm cho việc tăng thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện có tính khả thi trên thực tế.

Năm là, việc tổ chức phiên toà xét xử cần đổi mới theo hướng xác định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm pháp lý của cả những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng; bảo đảm nguyên tắc tranh tụng công khai, dân chủ và nghiêm minh trong xét xử.

Sáu là, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Toà án trên cơ sở đổi mới sự lãnh đạo của Đảng. Muốn vậy, cần tăng cường hoạt động kiểm tra của Đảng, công tác cán bộ Đảng, kết hợp với hoạt động giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Toà án; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân trước nhân dân và trước Đảng.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Điều kiện tuyển dụng công chức vào Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2020.

2. Công tác xét xử tội phạm và đổi mới hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ?

Trong 12 năm qua, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước tiếp tục được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp và chưa có chiều hướng giảm, các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng còn xảy ra nhiều.

Điều đáng lưu ý là đã xuất hiện một số băng nhóm tội phạm hoạt động “theo kiểu xã hội đen” ở một số tỉnh, thành phố lớn, tình trạng các đối tượng phạm tội sử dụng “vũ khí nóng” có xu hướng gia tăng; các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng xảy ra ở nhiều địa phương, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; không ít các vụ án lừa đảo có tổ chức chiếm đoạt tài sản của Nhà nước hoặc của công dân có giá trị rất lớn; nhiều vụ án về tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong các lĩnh vực thương mại, dầu khí, xây dựng cơ bản, quản lý vốn, quản lý nhà nước về đất đai. Trong một vài năm gần đây, đã xuất hiện các hình thức lợi dụng công nghệ tin học để phạm tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản... Các vụ án về ma tuý chưa có chiều hướng giảm, trong đó có nhiều vụ án mua bán, tàng trữ, sản xuất trái phép chất ma tuý với số lượng lớn, có nhiều người tham gia; các tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc chưa được kiềm chế; còn xảy ra nhiều vụ vi phạm an toàn giao thông nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tiền và tài sản. Các tội phạm như: trộm cắp, giết người, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, buôn lậu, mua bán phụ nữ, trẻ em vẫn diễn biến hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Vấn đề tội phạm, vi phạm trong thanh thiếu niên và việc gia tăng các hành vi hủy hoại môi trường đang là những vấn đề mà xã hội cần quan tâm trong giai đoạn hiện nay.

Trước tình hình đó, Toà án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan tư pháp ở trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương nhận thức đúng tính chất và yêu cầu cấp bách của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm; áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, khẩn trương phát hiện, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử kịp thời các hành vi phạm tội.

I. KÉT QUẢ CÔNG TÁC XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ (TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2010)

Trong 12 năm ( từ năm 1998 đến năm 2010 ), toàn ngành Toà án nhân dân đã giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 607.684 vụ án hình sự với 963.016 bị cáo trên tổng số 705.080 vụ án và 1.152.019 bị cáo phải giải quyết, đạt tỷ lệ 91%. Trong 12 năm qua, số lượng các vụ án hình sự mà các Toà án cấp sơ thẩm đã giải quyết tăng lên đáng kể (năm 1998 là : 38.712 vụ với 62.449 bị cáo thì 10 tháng của năm 2010 là: 42.701 vụ với 73.468 bị cáo ). Trong tổng số các tội phạm mà các Toà án cấp sơ thẩm đã giải quyết, chiếm tỷ lệ lớn vẫn là các tội xâm phạm sở hữu (chiếm 44%), các tội phạm về ma tuý (chiếm 18%) và các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người (chiếm 16%). Trong quá trình xét xử các vụ án hình sự, nhiều Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự đã cố gắng giải quyết 100% số lượng các vụ án hình sự đã thụ lý. Do đó, công tác xét xử các vụ án hình sự của các Toà án các cấp hầu như không có tình trạng để quá thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật. Đối với các vụ án lớn, trọng điểm, các Tòa án đã tăng cường phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, tiếp xúc với hồ sơ vụ án ngay từ khâu điều tra, truy tố để nắm rõ các tình tiết của vụ án; khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử kịp thời, theo đúng quy định và kế hoạch đề ra.

Các hình phạt mà Toà án tuyên phạt đối với các bị cáo đã thể hiện được chính sách hình sự của Nhà nước ta là nghiêm trị những kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm... khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại nên đã đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay. Trong 12 năm qua, các Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt tử hình và chung thân đối với 6.513 bị cáo; phạt tù từ trên 10 năm đến 20 năm đối với 14.571 bị cáo, từ trên 7 năm đến 10 năm đối với 82.092 bị cáo và từ 7 năm tù trở xuống đối với 612.507 bị cáo. Bên cạnh đó, Toà án cũng đã xử phạt tù nhưng cho hưởng hưởng án treo đối với 227.852 bị cáo. Nhìn chung, các hình phạt mà Toà án áp dụng đối với người phạm tội đảm bảo nghiêm minh, đúng pháp luật, được dư luận nhân dân đồng tình. Trong quá trình giải quyết vụ án khi phát hiện có những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước là nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, các Tòa án đã kiến nghị với các cơ quan có liên quan khắc phục những sơ hở thiếu sót trong công tác quản lý.

Để nâng cao ý thức pháp luật và tinh thần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong quần chúng nhân dân, trong 12 năm qua các Tòa án đã tổ chức trên 50.000 phiên toà xét xử lưu động tại nơi xảy ra vụ án. Một số Toà án đã làm rất tốt công tác này như: ngành Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các Toà án quân sự.

Nhìn chung, việc xét xử các vụ án hình sự của các Toà án trong thời gian qua đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tới mức thấp nhất việc xét xử sai, đặc biệt là việc xét xử oan người vô tội; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước.

II. NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁC CẤP GÓP PHẦN THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Từ năm 2002 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 02 Nghị quyết riêng về công tác tư pháp (Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong tình hình hiện nay và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Trong đó, các nội dung liên quan tới công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án nói chung và công tác xét xử các vụ án hình sự nói riêng bao gồm: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp, trong đó có công tác xét xử; đổi mới thủ tục tranh luận tại phiên tòa để nâng cao chất lượng xét xử các loại vụ án, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm; nghiên cứu để có sự phân định hợp lý hơn về thẩm quyền của các Tòa án; tăng cường công tác xét xử đối với các tội phạm về tham nhũng.

Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác nói chung và công tác xét xử các vụ án hình sự nói riêng, ngành Tòa án nhân dân luôn bám sát các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, gắn việc thực hiện hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp.

Về đổi mới thủ tục tranh luận tại phiên tòa, thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã thực hiện việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà trên cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và theo tinh thần cải cách tư pháp. Toà án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội thảo và Hội nghị sơ kết về " tranh tụng tại phiên toà hình sự " để tìm ra các phương thức triển khai tốt nội dung này tại các phiên toà hình sự. Nhìn chung việc tổ chức các phiên toà hình sự ở các Toà án các cấp đã từng bước đảm bảo được sự tôn nghiêm, dân chủ và văn minh theo đúng quy định của pháp luật. Toà án đã tạo điều kiện, đảm bảo cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ. Luật sư và những người tham gia tố tụng được trình bày hết ý kiến của mình; tranh luận giữa luật sư, bị cáo với đại diện Viện kiểm sát thể hiện khách quan hơn; việc phán quyết của Toà án chỉ căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Chính vì vậy, chất lượng xét xử các vụ án hình sự đã được nâng lên rõ rệt, đặc biệt đã khắc phục có hiệu quả việc kết án oan người không có tội.

Về thẩm quyền xét xử của các Tòa án, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, Bộ luật tố tụng hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 theo đó, Tòa án nhân dân tối cao không còn thẩm quyền xét xử sơ chung thẩm vụ án hình sự. Việc bỏ chế định xét xử sơ chung thẩm nhằm đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo và thực hiện nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.

Mặt khác, cũng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2004 thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử các tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt tới 15 năm tù (thay vì 7 năm tù như trước kia). Để thực hiện quy định này, hàng năm Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan tư pháp trung ương chỉ đạo các cơ quan tư pháp địa phương lựa chọn các Tòa án có đủ năng lực giao thực hiện thẩm quyền mới để đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định cho tăng thẩm quyền. Sau 6 năm thực hiện (2004 – 2009), cho đến tháng 7 năm 2009 tất cả các Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực đã thống nhất thực hiện thẩm quyền xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự. Qua theo dõi cho thấy, mặc dù khi tăng thẩm quyền, số lượng các vụ án hình sự mà các Tòa án cấp huyện phải thụ lý, giải quyết tăng hơn, tính chất của nhiều vụ án phức tạp hơn, nhưng chất lượng xét xử các vụ án hình sự của Tòa án cấp huyện vẫn tiếp tục được đảm bảo. Việc tăng thẩm quyền xét xử có rất nhiều ý nghĩa, trong đó một ý nghĩa quan trọng là đảm bảo thực hiện triệt để hơn nguyên tắc hai cấp xét xử vì khi phần lớn các vụ án hình sự được Tòa án cấp huyện xét xử sơ thẩm, nếu bản án có kháng cáo hoặc kháng nghị phúc thẩm thì Tòa án cấp tỉnh sẽ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy sẽ làm giảm dần bất hợp lý là cùng tính chất phúc thẩm nhưng có những vụ án do Tòa án cấp tỉnh xét xử nhưng có vụ án lại do Tòa án nhân dân tối cao xét xử. Để thực hiện tốt chủ trương tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện thì cần phải tăng cường năng lực cho cấp xét xử này. Trên thực tế, trong thời gian qua, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, Thẩm phán của Tòa án cấp huyện đã được quan tâm, kiện toàn, củng cố; do đó, đã từng bước khắc phục tình trạng thiếu, yếu ở Tòa án cấp này. Đây chính là những điều kiện cần thiết để tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo tinh thần cải cách tư pháp là tổ chức lại hệ thống Tòa án nhân dân theo thẩm quyền xét xử, nhưng phụ thuộc vào đơn vị hành chính, trong đó sẽ thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực thay cho các Tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay, nhằm nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động xét xử theo yêu cầu của cải cách tư pháp.

Về tăng cường công tác xét xử các tội phạm về tham nhũng, xuất phát từ yêu cầu của công tác đấu tranh chống tham nhũng, quan điểm chỉ đạo của Toà án nhân dân tối cao là: Đối với các vụ án về tham nhũng, các Tòa án phải khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để sớm đưa vụ án ra xét xử và cần áp dụng hình phạt nghiêm minh đối với các bị cáo. Cùng với việc xử lý về trách nhiệm hình sự, cần quan tâm tới các biện pháp thu hồi tài sản của Nhà nước đã bị chiếm đoạt hoặc làm mất mát; phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với những trường hợp thu lợi bất chính nhằm khắc phục hậu quả do loại tội phạm này gây ra. Bên cạnh đó, thông qua công tác xét xử, khi Toà án phát hiện có sự buông lỏng trong công tác quản lý, là nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm thì ngoài việc quyết định xử phạt đối với bị cáo, Toà án cần yêu cầu cơ quan hoặc tổ chức có liên quan áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục các nguyên nhân đó.

Trong 12 năm qua, toàn ngành Toà án nhân dân đã giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 3.850 vụ án hình sự với 9.278 bị cáo phạm các tội: Tham ô tài sản, Nhận hối lộ, Lạm dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản, Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Lạm quyền trong khi thi hành công vụ, Lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi, Giả mạo trong công tác. Trong số các bị cáo bị xét xử về hành vi tham nhũng có 46 bị cáo bị tuyên phạt mức án tử hình hoặc phạt tù chung thân và 4.006 bị cáo bị xử phạt tù có thời hạn. Bên cạnh các hình phạt chính, trong quá trình giải quyết vụ án, các Toà án cũng còn áp dụng các hình phạt bổ sung để buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho Nhà nước, tịch thu những thu lợi bất chính do phạm tội mà có.

Một số vụ án về tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng mà dư luận xã hội rất quan tâm đã được các Toà án đưa ra xét xử trong các năm qua là: vụ án ở Công ty xuất nhập khẩu tỉnh Yên Bái, vụ án Lã Thị Kim Oanh và đồng bọn, Vụ án Bế Đức Huân và đồng bọn ở cửa khẩu Hải quan Tân Thanh - Lạng Sơn, vụ án Mai Văn Dâu và các đồng phạm khác ở Bộ Thương mại, vụ án Mạc Kim Tôn ở Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Bình, vụ án vi phạm các quy định về quản lý đất đai tại Đồ Sơn - Hải Phòng, vụ án Bùi Tiến Dũng, nguyên Tổng Giám đốc ban quản lý các dự án - PMU18 và các đồng phạm khác bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc và đưa hối lộ, vụ án Lương Cao Khải ở Thanh tra Chính phủ, vụ án Nguyễn Lâm Thái; vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ tại Quán Nam, Hải Phòng…...

Như vậy có thể thấy rằng, số lượng các vụ án hình sự mà ngành Toà án nhân dân phải thụ lý giải quyết trong 12 năm qua là rất lớn. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng các Toà án đã có nhiều cố gắng nên việc giải quyết các vụ án hình sự đạt tỷ lệ khá cao. Trong quá trình giải quyết vụ án, các Tòa án đã nghiêm túc triển khai các yêu cầu về cải cách tư pháp liên quan tới lĩnh vực này nên chất lượng xét xử ngày càng tiến bộ. Việc xét xử các vụ án hình sự về cơ bản đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nhiều vụ án nghiêm trọng đã được các Toà án phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để khẩn trương đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh; các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội nghiêm khắc, đúng mức, được dư luận nhân dân đồng tình.

Để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xét xử các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu trah phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay, thời gian tới ngành Tòa án nhân dân sẽ tập trung làm tốt công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán; tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn ngành; tăng cường phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật cũng như trong quá trình giải quyết vụ án; đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp đã đề ra như: nghiên cứu áp dụng án lệ, nghiên cứu để đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án các cấp.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự

>> Xem thêm:  Bộ Tư pháp tuýt còi vụ truy thu thuế xe tải van

3. Cải cách tòa án là trọng tâm của cải cách tư pháp

Trong tình hình hiện nay, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, việc cải cách hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết. Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

Sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được thông qua, Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như: Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự. Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính… Nhìn chung, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, UBTVQH thông qua khá nhiều.

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, như còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét xử, khiếu nại, tố cáo. Số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật định còn lớn. Kết quả thi hành án hình sự, thi hành án phạt tù còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nguyên nhân có nhiều, nhưng điều có thể dễ nhận thấy là việc thể chế những chủ trương, quyết sách theo Nghị quyết 49-NQ/TW còn chậm, chưa đạt được được yêu cầu, mục tiêu cải cách đề ra.

Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án. Lựa chọn vấn đề này vì xét đến cùng, Toà án là nơi giám sát kết quả hoạt động của cả hệ thống tư pháp. Ngay cả việc thi hành án ở khâu cuối cùng của tố tụng hình sự cũng như tố tụng dân sự còn gặp nhiều khó khăn cũng phải xem xét từ cội nguồn của vấn đề là chất lượng bản án. Bản án công bằng, vô tư luôn tạo ra sức mạnh và tính chính đáng của hệ thống cơ quan tư pháp vì nó được người dân tin tưởng. Thông qua hoạt động của Toà án, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng phải không ngừng nâng cao năng lực của mình. Các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp dưới phải thực hiện việc bồi thường nếu có lỗi để xảy ra oan trong quá trình tố tụng. Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW: Tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện; toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà án thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Việc nghiên cứu cải cách Toà án theo định hướng Nghị quyết số 49-NQ/TW cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:

1. Các nguyên tắc chủ yếu

- Phải xuất phát từ yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là đảm bảo tính độc lập của Toà án. Trong hệ thống các cơ quan tư pháp hiện nay, Cơ quan điều tra tuy hoạt động độc lập theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhưng do cơ chế tổ chức cán bộ, thủ trưởng cơ quan điều tra có thể kiêm nhiệm một chức vụ hành chính như Tổng cục trưởng, Phó giám đốc Công an tỉnh, Phó trưởng Công an huyện nên hoạt động điều tra khó tránh khỏi sự chỉ đạo mang tính hành chính. Ở ngành Kiểm sát, do đặc thù của ngành về tính tập trung thống nhất, kiểm sát viên ngoài việc thực hiện thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn bị chỉ đạo mang tính hành chính của Viện trưởng Viện kiểm sát. Vì vậy, cần xây dựng tính độc lập của Toà án như một thành luỹ cuối cùng để giảm thiểu tối đa sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động của Toà án.

- Xây dựng mô hình Toà án một mặt tạo thuận lợi cho việc thực hiện quyền lực nhà nước nhưng cũng cần quan tâm đến lợi ích của công dân khi có việc phải hệ lụy đến chốn pháp đình.

- Cải cách tổ chức toà án phải đặt ra mục tiêu góp phần làm cho công tác xét xử được công bằng, đúng pháp luật.

2. Cải cách Toà án tập trung vào các nội dung sau

- Từ góc độ lợi ích của người dân, Toà án sơ thẩm khu vực ở các vùng nông thôn, miền núi dù có số lượng án ít cũng nên thành lập mỗi huyện một Toà án sơ thẩm khu vực. Ở thành phố lớn (TP. HCM, TP. Hà Nội), do điều kiện giao thông thuận lợi hơn có thể hai hoặc ba quận thành lập một Toà án sơ thẩm khu vực. Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên thành lập một Toà án phúc thẩm. Đối với Toà án thượng thẩm, tuỳ theo số lượng án phải thụ lý, giải quyết cần có phạm vi quản hạt khoảng năm đến mười tỉnh thành lập một Toà án là hợp lý.

- Về phân định thẩm quyền: theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, Toà án sơ thẩm khu vực có nhiệm vụ, thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại vụ án; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa thượng phẩm có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Yêu cầu của việc phân định thẩm quyền cho mỗi cấp Toà án là phải đảm bảo nâng cao chất lượng giải quyết án, án không bị tồn đọng, quá hạn luật định, giảm thiểu đến mức thấp nhất đã xảy ra oan sai trong hoạt động xét xử, đồng thời cũng phải kế thừa yếu tố hợp lý của việc phân định thẩm quyền của các Toà án hiện nay, tránh việc xáo trộn lớn không cần thiết.

3. Cơ cấu tổ chức

Hiện nay cơ cấu tổ chức của ngành toà án có ba cấp: Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao. Trong Toà án nhân dân tối cao còn có ba Toà phúc thẩm đặt ở ba miền và các Toà chuyên trách. Cấu trúc này làm cho tổ chức Toà án nhân dân tối cao rất đồ sộ với biên chế hàng trăm thẩm phán, nhưng việc xét xử của các Toà phúc thẩm, Toà chuyên trách này vẫn còn để xảy ra oan sai, làm ảnh hưởng nhiều đến Toà án nhân dân tối cao, tư cách là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, cơ cấu tổ chức của ngành Toà án sẽ có Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm và Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, để góp phần nâng cao năng lực giải quyết án, tăng cường tính độc lập của mỗi cấp Toà án, thì cần để cho các Toà thượng thẩm có một vị trí pháp lý độc lập, không phụ thuộc tổ chức Toà án nhân dân tối cao. Với cơ cấu tổ chức nói trên, việc xây dựng Toà án nhân dân tối cao ở nước ta từng bước có điều kiện tiếp cận với thông lệ của các nước có truyền thống tư pháp, theo đó, Toà án nhân dân tối cao sẽ có vai trò to lớn trong sáng tạo án lệ, bổ sung cho nguồn luật và số lượng thẩm phán thật sự không cần nhiều khoảng 9 đến 15 thẩm phán.

4. Về cơ chế bổ nhiệm thẩm phán

Cùng với việc cải cách mô hình tổ chức Toà án, thì vấn đề cải cách cơ chế bổ nhiệm thẩm phán phải được ưu tiên đặt lên hàng đầu. Việc chuẩn bị nhân sự cho việc bổ nhiệm thẩm phán cần tận dụng những lực lượng đã có sẵn để bổ nhiệm. Theo quy định của pháp luật, hiện nay có hai cơ chế bổ nhiệm thẩm phán. Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm thẩm phán các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự khu vực; Chủ tịch nước bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương. Cơ chế bổ nhiệm nhiệm hiện nay vẫn chưa tạo cơ hội cho người có phẩm chất, năng lực trong hệ thống chính trị trở thành thẩm phán (nguồn bổ nhiệm chủ yếu vẫn từ khối thư ký Toà án), chưa phát huy được vai trò của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội với tư cách là cơ quan thể hiện chủ quyền nhân dân, chưa gắn công tác giám sát tư pháp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân với công tác cán bộ của cơ quan tư pháp. Vì thế, cần thiết phải có sự điều chỉnh theo hướng giao cho UBTVQH bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thẩm phán Toà án quân sự trung ương. Vì hiện nay UBTVQH là cơ quan quyết định biên chế, chế độ tiền lương của ngành Toà án, quyết định một số thẩm phán làm thành viên của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thực hiện giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao giữa hai kỳ họp Quốc hội. Đối với việc bổ nhiệm thẩm phán Toà án thượng thẩm, thẩm phán Toà án phúc thẩm, Toà án sơ thẩm khu vực nên giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Để tập trung cho hoạt động xét xử, sáng tạo án lệ ở cấp cao nhất, không nên giao cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán ở bất kỳ cấp nào.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo ngay dịch vụ: Dịch vụ luật sư bào chữa tại tòa án

>> Xem thêm:  Thông báo danh sách luật sư đủ điều kiện dự thi

4. Nên thay đổi trang phục ngành Tòa án nhân dân

Nghị quyết số 221/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 9/1/2003 về trang phục đối với cán bộ công chức ngành Toà án và Hội thẩm thể hiện sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước đối với đời sống cán bộ công chức ngành Toà án.

Tại điều 3 NQ đã nêu: “Hình thức, màu sắc các loại trang phục đối với Thảm phán, cán bộ công chức Toà án nhân dân các cấp và Hội thẩm nhân dân do Chánh án Toà án nhân dân Tối cao quy định”. Trang phục đối với Thẩm phán, quân nhân, cán bộ và công nhân quốc phòng làm việc tại Toà án Quân sự các cấp, Hội thẩm quân nhân thực hiện theo quy định về trang phục đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Trang phục xét xử của Thẩm phán Toà án quân sự các cấp theo quy định về lễ phục đối với sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Căn cứ Nghị quyết của UBTVQH Toà án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn tại công văn số 1148/TA-KHTC ngày 11/10/2004 về trang phục của CBCC, HTND ngành Toà án nhân dân là quần âu, áo vét tông, hoặc dạ màu đen, áo sơ mi màu trắng.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Ngành Toà án nhân dân là một ngành biểu trưng cho quyền lực Nhà nước, là hiện thân của công lý, do đó cán bộ công chức của ngành rất cần có một bộ trang phục đặc trưng thể hiện được rõ ràng hình tượng của người cán bộ Toà án của nhân dân. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin có một số ý kiến về vấn đề trang phục ngành ta như sau:

Trang phục quần đen, áo trắng là trang phục thông dụng của tầng lớp công chức làm việc tại các công sở, trường học và các đông đảo nhân dân. Do vậy, rất khó phân biệt được người cán bộ Toà án với số đông những người không phải là cán bộ Toà án.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại trụ sở Toà án hoặc nhiều trường hợp, cán bộ Toà án phải tác nghiệp ở địa phương, tại nhà đương sự, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành công việc…Bộ trang phục hiện tại không những không góp phần tôn thêm vẻ nghiêm trang của người cán bộ Toà án mà còn làm cho đương sự "nhờn", thể hiện thái độ bất cần, bất hợp tác. Đặc biệt là tại các phiên toà, trong khi đại diện Viện Kiểm sát, Công an có trang phục riêng, đặc trưng, thể hiện rất rõ ràng tính uy nghiêm của người đại diện pháp luật thì cán bộ Toà án cũng chỉ vận quần đen áo trắng như những người đến xem (thậm chí như luật sư hay bị cáo!).

Hiện nay có tình trạng một số người giả mạo danh nghĩa cán bộ Toà án để lừa đảo những người dân cả tin, những đương sự đang có công việc liên quan đến Toà án với nhiều chiêu bài khác nhau. Những người này thường lợi dụng sự quen thuộc đường đi lối lại để thường xuyên xuất hiện trong cơ quan Toà án làm cho nạn nhân tin là thật. Nhiều người đã bị lừa vì không có khả năng kiểm tra thông tin, xác định đó là cán bộ Toà án hay không. Nếu cán bộ Toà án có được bộ trang phục đặc trưng có thể sẽ giúp giảm bớt phần nào tình trạng này.

Thực tế cũng cho thấy, mẫu trang phục ngành ở các Toà án địa phương cũng không tuyệt đối thống nhất về mẫu mã, chất liệu, màu sắc vải; về màu đen nơi thì đen đậm, nơi đen nhạt; về màu trắng thì cũng nhiều phiên bản khác nhau, nơi thì trắng sáng, nơi lại trắng đục; có trường hợp áo của cán bộ nữ lại có hoa văn trang trí. Áo vét tông hay áo dạ nhiều nơi cũng không giống nhau… Sở dĩ có tình trạng này là do ngành TAND không tổ chức may tập trung để cấp phát trang phục mà cấp tiền trang phục để cán bộ tự may trang phục.

Toà án nhân dân tối cao cũng đã có chỉ đạo cán bộ công chức trong ngành phải nghiêm túc chấp hành quy định về mặc trang phục nhưng thực tế việc chấp hành là chưa thực sự nghiêm túc, còn có những cán bộ không mặc đúng trang phục ngành khi đến cơ quan làm việc. Thực hiện quy định này là ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm của mỗi cán bộ, tuy nhiên có một phần do mẫu trang phục của ngành ta quá giản dị, mặc ở nhà cũng được, đi chơi hoặc đi làm cũng được. Khi cán bộ đến cơ quan cũng khó xác định người nào mặc đúng quy định hay không nếu so sánh với việc có một bộ trang phục với kiểu dáng, màu sắc, chất liệu đặc trưng, nổi bật. Một bộ đồng phục trang nghiêm còn góp phần tăng cường tinh thần tập thể, đoàn kết và tính kỷ luật.

Chúng ta cần phải tạo dựng niềm tự hào là người cán bộ Toà án nhân dân của cán bộ trong ngành bằng nhiều biện pháp và việc giáo dục ý thức tự hào về ngành và công việc của mình thông qua một bộ trang phục đặc trưng là cần thiết và rất có ý nghĩa.

Hiện nay TAND tối cao đang phát động cuộc thi viết ca khúc về ngành, đây là một công việc rất có ý nghĩa. Nên chăng, chúng ta cũng phát động thêm cuộc thi thiết kế mẫu trang phục ngành Toà án?

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình

>> Xem thêm:  Mẫu danh sách trọng tài viên gửi bộ tư pháp công bố (Mẫu số 24/TP-TTTM)

5. Bàn về công tác thi đua khen thưởng của ngành Tòa án nhân dân

Trong những năm qua, ngành TAND đã đặt ra các chỉ tiêu thi đua, đặc biệt là chỉ tiêu về số lượng và chất lượng của công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án. Nhìn chung toàn ngành đã có nhiều cố gắng, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành các chỉ tiêu công tác xét xử nên hàng năm về cơ bản đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu này.

I. Một số vấn đề chung

Riêng đối với chỉ tiêu về chất lượng, giải quyết, xét xử các loại vụ án (tỷ lệ án hủy 1,16%, tỷ lệ sửa 4,20% do lỗi chủ quan của Thẩm phán) đã góp phần tích cực trong việc duy trì và ngày càng nâng cao chất lượng xét xử của ngành TAND. Để phấn đấu đạt được chỉ tiêu này, các Thẩm phán đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, thận trọng, tỷ mỉ trong quá trình giải quyết, xét xử từng vụ án cụ thể nhằm đảm bảo đúng các quy định của pháp luật. Chất lượng xét xử là một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực, trình độ, phẩm chất, bản lĩnh nghề nghiệp của từng Thẩm phán và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của các Tòa án.

Tuy nhiên, xung quanh vấn đề chỉ tiêu về chất lượng xét xử cũng còn nhiều bất cập khi chỉ đơn thuần xét về góc độ số học (tỷ lệ). Khi một vụ án bị sửa, hủy dù là lỗi chủ quan của Thẩm phán thì lỗi đó cũng có những mức độ khác nhau; mức độ nghiêm trọng của vụ án hoặc loại án bị sửa, hủy cũng khác nhau và hậu quả của việc sửa, hủy cũng khác nhau. Mặt khác, tỷ lệ về chất lượng sửa, hủy tính bằng % trong khi đó số vụ án của các Tòa án, của từng Thẩm phán đã giải quyết cũng khác nhau. Tòa án nào, cá nhân Thẩm phán nào xét xử nhiều mà bị sửa, hủy nhiều thì có thể tỷ lệ về chất lượng không vượt quá chỉ tiêu thi đua, ngược lại Tòa án hoặc Thẩm phán giải quyết, xét xử ít thì có thể chỉ bị sửa, hủy một vụ án cũng đã không đảm bảo chỉ tiêu về chất lượng. Hơn thế, các vụ án bị hủy, sửa thường là các vụ án phức tạp, án khó và các vụ án này lại thường được giao cho các đồng chí lãnh đạo đơn vị hoặc Thẩm phán có năng lực giải quyết nên khi bị sửa, hủy thì lãnh đạo đơn vị, ngoài việc chịu trách nhiệm chung về công tác xét xử của đơn vị, còn phải chịu trách nhiệm cá nhân về các vụ án khó, phức tạp mà mình trực tiếp giải quyết nhưng bị sửa, hủy. Lãnh đạo đơn vị (thường ít xét xử) hoặc Thẩm phán có năng lực khi được phân công giải quyết các vụ án khó, phức tạp mà bị sửa, hủy thì thường không đạt danh hiệu thi đua.

Hiện nay, tỷ lệ chất lượng xét xử áp dụng chung cho tất cả các Tòa án, các Thẩm phán mà không phân định rõ trách nhiệm của từng cấp Tòa án và Thẩm phán ở cấp Tòa án đó cũng không phù hợp. Càng là Tòa án cấp trên thì trách nhiệm càng phải cao hơn Tòa án cấp dưới; Thẩm phán Tòa án cấp trên giải quyết, xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm bản án, quyết định của Thẩm phán Tòa án cấp dưới càng phải đảm bảo đúng pháp luật hơn vì bản án, quyết định của Tòa án cấp trên có hiệu lực pháp luật ngay và là khuôn mẫu cho Thẩm phán Tòa án cấp dưới học tập.

Những vấn đề nêu trên là những bất cập trong việc xem xét, đánh giá về tỷ lệ chất lượng xét xử của từng Tòa án, từng Thẩm phán sau một năm công tác. Trên cơ sở này để bình xét thi đua của từng Tòa án, từng cá nhân Thẩm phán.

Hiện nay, Vụ TCCB đã căn cứ vào tỷ lệ án bị sửa, hủy làm tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá Thẩm phán khi tái nhiệm. Theo chúng tôi, nếu chỉ căn cứ vào chỉ tiêu chất lượng, mang tính số học đơn thuần để không tái bổ nhiệm các Thẩm phán có tỷ lệ án bị hủy, sửa cao hơn chỉ tiêu thi đua là không thật phù hợp và không sát với thực tiễn xét xử của ngành TAND. Việc áp dụng đơn thuần các chỉ tiêu vê chất lượng giải quyết xét xử mà không tính đến những bất cập nêu trên và hậu quả là rất nhiều Thẩm phán đã hết nhiệm kỳ nhưng bị tạm thời chưa tái bổ nhiệm, bị "treo giò" trong một thời gian khá dài, làm cho tư tưởng Thẩm phán nặng nề và thậm chí không công bằng khi Thẩm phán năng lực bình thường hoặc yếu lại được tái bổ nhiệm, còn người có năng lực, luôn được lãnh đạo Tòa án lựa chọn để giao giải quyết các vụ án phức tạp, khó lại bị "treo giò". Các vướng mắc trên cần được lãnh đạo TANDTC xem xét giải quyết.

Mặt khác, việc dừng lại, chậm xem xét bổ nhiệm Thẩm phán khi hết nhiệm kỳ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ giải quyết, xét xử chung của đơn vị và toàn ngành. Mỗi năm, Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm lại gần 1000 Thẩm phán, mỗi Thẩm phán chậm bổ nhiệm thì mỗi năm đã có 2000 tháng Thẩm phán không xét xử. Tính trung bình mỗi Thẩm phán giải quyết xét xử 5 vụ án/ tháng thì mỗi năm đã có 10.000 vụ án chưa được giải quyết. Như vậy, lẽ ra tỷ lệ giải quyết xét xử cao hơn thì lại thấp đi, thậm chí có loại vụ án không đạt chỉ tiêu đề ra. Tình trạng chậm bổ nhiệm hoặc "treo giò" Thẩm phán vô hình chung làm cho số lượng Thẩm phán đã thiếu lại càng thiếu.

II. Một số đề xuất:

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập nêu trên về áp dụng tỷ lệ các vụ án bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:

1. Việc xác định do lỗi chủ quan hay lỗi khách quan khi vụ án bị sửa, hủy phải căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật tại thời điểm xét thi đua hoặc đánh giá Thẩm phán. Trường hợp sau thời điểm đó lại có bản án, quyết định "giữ nguyên bản án, quyết định" đã bị hủy, sửa thì được xem xét lại.

- Những trường hợp có ý kiến khác nhau về xác định lỗi chủ quan hay khách quan, thì Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh xem xét, kết luận đối với các bản án, quyết định của ngành TAND tỉnh đó; Hội đồng Thẩm phán xem xét, kết luận đối với bản án, quyết định của các Tòa chuyên trách, Tòa phúc thẩm TANDTC.

2. Đánh giá tính nghiêm trọng của bản án, quyết định bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán cũng theo mức độ khác nhau. Thông thường thì các vụ án bị hủy có tính nghiêm trọng hơn các vụ án bị sửa, tuy nhiên cũng có những vụ án bị sửa toàn bộ lại nghiêm trọng hơn các vụ án bị hủy vì những lý do không nghiêm trọng. Mặt khác hậu quả của việc bị sửa, hủy cũng khác nhau. Do đó, để đánh giá mức độ nghiêm trọng của vụ án bị sửa, hủy cần kết hợp giữa xác định lỗi của Thẩm phán, hậu quả vụ án bị sửa, hủy và loại vụ án bị sửa, hủy.

Ví dụ: - Trong các vụ án hình sự nếu bị hủy, đình chỉ, tuyên bố bị cáo không phạm tội (tức là đã xét xử oan) thì lỗi này rất nghiêm trọng; đã tuyên án tử hình, thi hành án rồi mới phát hiện bị cáo bị xét xử oan thì đặc biệt nghiêm trọng…

- Trong các vụ án dân sự nếu xét xử sai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (làm cho họ bị mất hết tài sản, danh dự…) thì rất nghiêm trọng; làm cho họ phẫn uất dẫn đến tự tử, tự thiêu thì là đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, theo chúng tôi thì:

- Nếu là mức độ sai rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì chỉ cần sai một vụ cũng đã không xét thi đua.

- Nếu là lỗi cố ý xét xử sai lệch hoặc ra bản án, quyết định trái pháp luật thì dù chỉ là một vụ án cũng không xét thi đua, thậm chí còn bị xử lý theo quy định của Pháp luật hình sự.

- Các trường hợp khác nếu sai ít nghiêm trọng, hậu quả không lớn thì vẫn được xét thi đua.

3. Phân định trách nhiệm của Thẩm phán Tòa án các cấp

Đề xuất: - Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử sai hoặc trả lời khiếu nại sai thì phải chịu trách nhiệm cao hơn Thẩm phán cấp tỉnh.

- Nếu Thẩm phán TAND cấp tỉnh xét xử sai thì phải chịu trách nhiệm cao hơn Thẩm phán TAND cấp huyện.

- Thẩm phán làm công tác giám đốc thẩm chịu trách nhiệm cao hơn Thẩm phán xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.

4. Về tỷ lệ án sửa, hủy.

Tỷ lệ % số vụ án bị sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán hiện đang áp dụng cũng có những bất cập như đã nêu ở trên. Để giải quyết những bất cập này, chúng tôi đề xuất tính theo số vụ án bị sửa, hủy trên tổng số vụ án mà Thẩm phán hoặc Tòa án đó đã giải quyết. Cụ thể là:

4.1. Về án hủy.

Đối với Thẩm phán TANDTC

- Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử phúc thẩm thì bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống mà bị ủy 02 vụ do lỗi chủ quan không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua. Nếu xét xử từ trên 50 vụ trở lên mà bị hủy 03 vụ do lỗi chủ quan nhưng không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua.

- Nếu Thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng trở lên hoặc 02 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì cũng không được xét thi đua.

- Thẩm phán TANDTC là thành viên Hội đồng xét xử cũng không được xét thi đua nếu bản án, quyết định đó bị hủy vì có sai lầm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Đối với Thẩm phán TAND cấp tỉnh

- Thẩm phán TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Thẩm phán TAND cấp tỉnh xét xử từ 50 vụ án/năm trở xuống nếu bị hủy 02 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua, nếu xét xử từ 50 vụ trở lên, bị hủy 03 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì vẫn được xét xử thi đua.

- Thẩm phán tham gia xét xử giám đốc thẩm nếu bị hủy 01 vụ án ở mức rất nghiêm trọng trở lên hoặc 02 vụ ở mức không nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

Đối với Thẩm phán TAND cấp huyện:

- Thẩm phán TAND cấp huyện bị hủy 01 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Thẩm phán TAND cấp huyện xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống nếu bị hủy 03 vụ ở mức độ không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua; nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở lên nếu bị hủy 04 vụ ở mức không nghiêm trọng thì vẫn được xét thi đua.

4.2. Về án sửa.

Đối với Thẩm phán TAND cấp tỉnh:

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống bị sửa 02 vụ do ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua;

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở lên bị sửa 03 vụ ở mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống bị sửa 03 vụ ở mức không nghiêm trọng hoặc xét xử từ trên 50 vụ/năm trở lên bị sửa 05 vụ ở mức không nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

Đối với Thẩm phán TAND cấp huyện

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống mà bị sửa 03 vụ ở mức rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua; nếu xét xử từ trên 50 vụ/năm trở lên mà bị sửa 04 vụ ở mức rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

- Nếu xét xử từ 50 vụ/năm trở xuống bị sửa 04 vụ ở mức không nghiêm trọng hoặc xét xử từ 50 vụ/năm trở lên bị sửa 06 vụ ở mức không nghiêm trọng thì không được xét thi đua.

Đối với Thẩm phán TAND các cấp nếu cố tình ra bản án, quyết định trái pháp luật thì dù bản án, quyết định đó bị sửa hay bi hủy ở mức độ nào cũng không được xét thi đua.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi và rất mong được các bạn đồng nghiệp trao đổi.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Mẫu báo cáo của trung tâm trọng tài/chi nhánh/văn phòng đại diện của tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam về việc chấm dứt hoạt động (Mẫu số 23/TP-TTTM)